DIỄN ĐÀN

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 26280833
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 8134
  • Trong tuần: 36046
  • Trong tháng: 868500
  • Trong năm: 18280833
Trang chủ | Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và Quý I năm 2014

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và Quý I năm 2014 ( 15:40 | 04/04/2014 )

Bản để inGửi bài này qua Email

Báo cáo số 1870/BC-BKHĐT ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và Quý I năm 2014 (Tài liệu phục vụ họp báo của Chính phủ ngày 01/4/2014)

1. Về ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường và kiềm chế lạm phát
-Lạm phát tiếp tục được kiềm chế, chỉ số giá giảm so với tháng trước
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2014giảm (-) 0,44% so với tháng trước. So với tháng 12/2013, CPI tháng 3/2014 tăng 0,8%, là mức tăng thấp nhất trong vòng 13 năm qua. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 3/2014 tăng 4,39%; tính bình quânCPI3 tháng đầu năm tăng 4,83%.
CPI tháng 3 giảm so với tháng trước chủ yếu do: (1) các cấp, các ngành tiếp tục triển khai quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp, chính sách theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý giá cả thị trường, cung - cầu hàng hóa, nhất là sự điều hành có hiệu quả một số mặt hàng do Nhà nước quản lý; (2quy luật giảm giá một số mặt hàng thiết yếu, dịch vụ sau Tết; (3) nguồn cung lương thực dồi dào do Đồng bằng sông Cửu Long đang thu hoạch lúa Đông Xuân; (4) dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều địa phương gây tâm lý e ngại cho người tiêu dùng, góp phần làm giảm chỉ số giá thực phẩm.
-Về xuất nhập khẩutrongQuý I/2014, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 33,35 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 32,34tỷ USD, tăng 12,4%xuất siêukhoảng 1 tỷ USD.
- Thu chi ngân sách đạt kháso với cùng kỳ năm trướclũy kế từ đầu năm đến ngày 15/3/2014, tổng thu NSNN ước đạt 157,05 nghìn tỷ đồng, bằng 20,1% dự toán, cao hơn so với cùng kỳ hai năm trước (cùng kỳ năm 2013 đạt 16,7%; 2012 đạt 18,5%); tổng chi NSNN ước đạt 184,58 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán.
-Về đầu tư phát triểntổng vốn đầu tư xã hội Quý I/2014 theo giá hiện hành ước đạt 214,8 nghìn tỷ đồng, bằng 28,4% GDP và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu t­­ư trực tiếp nư­­ớc ngoài thực hiện trong Quý I/2014 ước đạt 2.850 triệu USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký ước đạt khoảng 3.334,04 triệu USD, bằng 50,4% cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước chủ yếu do cùng kỳ năm trước một số dự án lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tăng vốn nên số vốn đăng ký tăng cao.
Vốn ODA giải ngân trong Quý I/2014 ước đạt 364 triệu USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.
2. Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ các năm trước: tăng trưởng GDP Quý I/2014 (giá so sánh 2010) ước đạt 4,96%, cao hơn cùng kỳ hai năm trước (cùng kỳ 2013: 4,76%; 2012: 4,75%), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,37%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,69%; khu vực dịch vụ tăng 5,95%.
-Sản xuất công nghiệp,nhất là công nghiệp chế biến chế tạo, đã có những chuyển biến tích cực: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3/2014 tăng 16,9% so với tháng trước và tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung Quý I/2014, chỉ số IIP tăng 5,2%, cao hơn mức tăng 4,9% của cùng kỳ năm trước; trong đó: khai khoáng giảm 2,9%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,3% (cùng kỳ chỉ tăng 5,4%), sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,7%.
-Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy gặp nhiều khó khăn do thời tiết không thuận lợi, dịch bệnh nhưng vẫn phát triển tương đối ổn định: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I/2014(theo giá so sánh 2010) tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: nông nghiệp tăng 2%; lâm nghiệp tăng 4,8%; thủy sản tăng 3,7%.
- Về sản xuất lúa: tính đến 15/3/2014, cả nước gieo cấy 3.062,3 nghìn ha lúa Đông Xuân, xấp xỉ cùng kỳ năm trước. Các tỉnh phía Nam thu hoạch đạt 725,3 nghìn ha, bằng 64,6% so với cùng kỳ, trong đó, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 702 nghìn ha, bằng 64,4%. Theo ước tính của các tỉnh, năng suất lúa vụ Đông Xuân vùng này đạt khá, tăng 0,9 tạ/ha so vụ Đông Xuân 2013 (tăng 1,3%); sản lượng đạt trên 10,8 triệu tấn, tăng trên 126 nghìn tấn (tăng 1,2%).
- Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp nhiều khó khăn do thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, dịch bệnh trên gia cầm bùng phát ở nhiều địa phương: trong Quý I/2014, quy mô đàn trâu, bò giảm 1-2% so với cùng kỳ năm trước;sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng giảm khoảng 1-1,5%. Quy mô đàn lợn tăng nhẹ, thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 1-1,2%. Số lượng gia cầm giảm khoảng 1%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng nhẹ.
 Khai thác và nuôi trồng thủy sản Quý I/2014 ước đạt 1.185,2 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ chỉ tăng 1,1%); trong đó sản lượng khai thác tăng 5,6%; sản lượng nuôi trồng giảm 0,4%.
- Khu vực dịch vụ tăng trưởng cao hơn hai khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp, xây dựng: tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực dịch vụ trong Quý I/2014 đạt 5,95%; hầu hết các ngành dịch vụ đều có mức tăng trưởng cao. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trướckhách quốc tế đến Việt Nam trong ước đạt trên 2,3 triệu lượt người, tăng 29,3%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ hai năm trước (Quý I/2013 giảm 6,2%; Quý I/2012 tăng 24,5%).
3. Về an sinh xã hội, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác
- Về lao động việc làm:trong Qúy I/2014, cả nước tạo việc làm khoảng 346,3 nghìn người, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó, xuất khẩu lao động 23,3 nghìn người, tăng 22,1%. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo Quý I/2014 ước tính đạt 18,3%, cao hơn mức 17,9% của cả năm 2013. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi Quý I năm nay là 2,18% (cùng kỳ là 2,27%), trong đó khu vực thành thị là 3,75% (cùng kỳ là 3,8%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi khu vực nông thôn Quý I là 3,44%, tương đương mức cùng kỳ năm trước.
Lĩnh vực an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm thực hiện tốt, như: thực hiện nghiêm túc các Quyết định của Chủ tịch nước và của Thủ tướng Chính phủ về thăm hỏi, tặng quà đến các đối tượng người có công với cách mạng cũng như hỗ trợ gạo cứu đói dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt. Quan tâm thực hiện các chính sách đối với người có công; ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, miền núi, vùng hải đảo; tiếp tục quan tâm hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn tín dụng để phát triển sản xuất...   
- Về trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ:
Về tai nạn giao thông: theo Ủy ban ATQG, tính từ 16/12/2013 đến 15/3/2014, tai nạn giao thông đã giảm mạnh cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: trên địa bàn cả nước đã xảy ra gần 6,6 nghìn vụ tai nạn, giảm 13,7%; làm chết trên 2,4 nghìn người, giảm 5,9%; làm bị thương gần 6,5 nghìn người, giảm 17,5% so với cùng kỳ năm 2013.
Về tình hình cháy nổ: trong tháng 3/2014, cả nước xảy ra 229 vụ cháy, nổ, giảm 30,2% so với tháng trước; trong đó: có 223 vụ cháy, làm chết 6 người, bị thương 8 người, thiệt hại khoảng 54,7 tỷ đồng; có 6 vụ nổ, làm chết 01 người, làm bị thương 02 người.
Đánh giá chungtrong Quý I/2014, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ và các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về bình ổn giá cả, thị trường và đã đạt được những kết quả tích cực. Lạm phát được kiềm chế, giá cả, thị trường khá ổn định, cung - cầu hàng hóa được bảo đảm. So với tháng 12/2013, chỉ số giá tháng 3 có mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ nhiều năm qua. GDP tăng cao hơn cùng kỳ hai năm trước với sự tăng trưởng của cả 3 khu vực. Lãi suất được điều chỉnh giảm, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ giá, thị trường ngoại hối diễn biến tương đối ổn định. Xuất khẩu tăng cao, có xuất siêu. Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạotiếp tục có những chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng cao hơn cùng kỳ. Sản xuất nông nghiệp, tuy chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn tiếp tục phát triển; sản lượng và năng suất lúa vụ Đông Xuân ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng so cùng kỳ. Khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung của cả nước; khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh. Hoạt động phát triển doanh nghiệp có những dấu hiệu tích cực bước đầu. Vốn ODA và FDI thực hiện tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Công tác phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ, bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; đời sống của người dân, đặc biệt là người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa được quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ được chú trọng tăng cường và đạt nhiều kết quả tích cực…  
Tuy nhiên, thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài cùng với dịch bệnh trên gia cầm bùng phát đã làm hư hại hoa màu, thiệt hại về gia súc, gia cầm ở một số địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi và đời sống của người dân. Nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi cá tra giảm sút và chưa có dấu hiệu hồi phục. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn./.
Theo mpi.gov.vn