DIỄN ĐÀN

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 26976498
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 294
  • Trong tuần: 25647
  • Trong tháng: 444209
  • Trong năm: 18976498
Trang chủ

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và hai tháng đầu năm 2014, tình hình triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ( 10:50 | 24/03/2014 )

Bản để inGửi bài này qua Email
Field gắn: 

Báo cáo số 1092/BC-BKHĐT ngày 27 tháng 02 năm 2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tài liệu báo cáo tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ ngày 28/02/2014)

Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu t­ư báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và hai tháng đầu năm 2014, tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ, dự báo về tình hình và các giải pháp chủ yếu trong thời gian tới như sau:
I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 01/NQ-CP CỦA CHÍNH PHỦ
Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã khẩn trương xây dựng, ban hành và triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2014. Các cấp, các ngành đã tích cực triển khai các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát; tăng cường các biện pháp quản lý giá cả thị trường, bảo đảm cung cầu hàng hóa, an toàn vệ sinh thực phẩm, giao thông và trật tự xã hội... đồng thời, tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch ngay từ đầu năm.
II. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 02 VÀ HAI THÁNG NĂM 2014
1. Về thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô
a) Về giá cả và lạm phát
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2014 tăng 0,55% so với tháng trước và là mức tăng thấp nhất trong vòng 10 năm qua; trong đó: tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 1,15%,chủ yếu do nhu cầu ăn uống tăng trong dịp Tết, nhất là hoạt động ăn uống ngoài gia đình (tăng 1,6%),đây cũng là nhóm hàng duy nhất có CPI tăng trên 1%; tiếp đến là nhóm giao thông, tăng 0,66% và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,61% do nhu cầu đi lại, du Xuân của người dân tăng; hai nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm nhà ở - vật liệu xây dựng, giảm 0,64% do nhu cầu sửa chữa, xây dựng nhà cửa trong dịp Tết giảm mạnh cùng với việc giá gas giảm trong tháng đầu năm 2014; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng Tết Nguyên đán Giáp Ngọ tăng thấp là nhờ các cấp các ngành đã triển khai quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp, chính sách theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, như: bảo đảm cung cầu hàng hóa, nhất là nguồn cung lương thực, thực phẩm khá dồi dào; thực hiện tốt các biện pháp bình ổn giá, tăng cường quản lý giá cả thị trường; chống buôn lậu, trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng nhái...
CPI tháng 02/2014 tăng 1,24% so với tháng 12/2013 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong vòng 10 năm qua; bình quân 2 tháng đầu năm tăng 5,05% so với cùng kỳ năm 2013.
b) Tiền tệ, tín dụng
Tính đến ngày 20/2/2014, tổng phương tiện thanh toán (M2) ước tăng 1,94% so với tháng 12/2013(cùng kỳ tăng 3,31%). Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tăng 0,83% so với tháng 12/2013; trong đó: huy động vốn VND tăng 0,54%; huy động bằng ngoại tệ tăng 2,6%. Tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước giảm 1,66% so với cuối năm 2013 (cùng kỳ giảm 0,86%); trong đó: dư nợ tín dụng bằng VND giảm 1,94%; dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ ước tăng 0,11%.
Tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng đều thấp hơn cùng kỳ cho thấy việc khơi thông dòng vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn khó khăn, sức cầu của nền kinh tế chưa cải thiện đáng kể.
Lãi suất huy động tương đối ổn định. Các NHTM Nhà nước và một số NHTM cổ phần có thanh khoản tốt có lãi suất huy động ở mức thấp hơn trần lãi suất theo quy định của NHNN. Lãi suất cho vayổn định, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đã được các NHTM cho vay với mức lãi suất chỉ 6,5-7%/năm.
c) Về xuất, nhập khẩu
Kim ngạch xuất khẩu tháng 2 ước đạt 9,6 tỷ USD, giảm 16,2% so với tháng 01/2014; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 10,8 tỷ USD, tăng 7,8%. Kim ngạch xuất khẩu giảm trong khi nhập khẩu tăng nhẹ so với tháng trước chủ yếu do tháng 02/2014 rơi vào tháng Tết Nguyên đán với kỳ nghỉ Tết khá dài.
Tính chung hai tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 21,06 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó: khu vực có vốn đầu tư nước ngoài(không kể dầu thô) ước đạt 12,92 tỷ USD, chiếm 61,3% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 15,6%; khu vực trong nước tăng 13,2%.
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu: điện thoại và linh kiện tăng 22,9%; dệt may tăng 30,1%; giầy dép tăng 27,4%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 20,2%; thủy sản tăng 38,9%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 4,9%; dầu thô giảm 23,2%; gạo giảm 2,3%; cà phê giảm 16,9%; sắn và sản phẩm giảm 24,9%...
Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt khoảng 20,82 tỷ USD, tăng 17%; trong đó: khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,76 tỷ USD, chiếm 56,5% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 17,1%; khu vực kinh tế trong nước tăng 16,8%.
Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu: máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 39,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 0,6%; điện thoại và linh kiện tăng 13,1%; vải tăng 26,7%; xăng dầu tăng 31,5%; sữa và sản phẩm sữa giảm 6,4%; phân bón giảm 25,2%...
Xuất siêu khoảng 244 triệu USD; trong đó, xuất siêu của khu vực FDI (không kể dầu thô) ước đạt 1.163 triệu USD; nếu kể cả dầu thô, khu vực FDI xuất siêu khoảng 2.098 triệu USD.
d) Về thu - chi ngân sách nhà nước
Tổng thu NSNN lũy kế từ đầu năm đến 15/02/2014 ước đạt 99.366 tỷ đồng, bằng12,7% dự toán năm,trong đó: thu nội địa ước đạt71.566 tỷ đồng, bằng 13,3%; thu từ dầu thô ước đạt 10.600 tỷ đồng, bằng 12,4%; thu cân đối NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 16.800 tỷ đồng, bằng 10,9%.
Tổng chi NSNNlũy kế từ đầu năm đến ngày 15/02/2014 ước đạt 114.710 tỷ đồng, bằng11,4% dự toán năm, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 9,3% dự toán năm.
đ) Về đầu tư phát triển 
Vốn đầu t­­ư trực tiếp nư­­ớc ngoài thực hiện lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/02/2014 ước đạt 1.120 triệu USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2013. Tổng vốn đăng ký ước đạt 1.539,7 triệu USD, giảm 62,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: vốn đăng ký cấp mới đạt 830,9 triệu USD, giảm 19,3%; vốn đăng ký tăng thêm đạt 708,8 triệu USD, giảm 77%. Có 122 dự án cấp mới, giảm 33% so với cùng kỳ; 41 lượt dự án tăng vốn, giảm 53,9%.
Vốn đăng ký giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do cùng kỳ năm trước một số dự án lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư nên số vốn tăng cao. Ngoài ra, số dự án cấp mới và tăng vốn đều giảm khá nhiều so với cùng kỳ năm 2013 cũng góp phần làm giảm vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
Vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân trong 02 tháng đầu năm ước đạt 231 triệu USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: vốn vay ước đạt 210 triệu USD, viện trợ không hoàn lại ước đạt 21 triệu USD.
2. Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
a) Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02/2014 giảm 10,3% so với tháng trước chủ yếu do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài và phần lớn rơi vào tháng 02. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, IIP tháng 02/2014 tăng khá cao ở mức 15,2% và tính chung 02 tháng đầu năm tăng 5,4% (cùng kỳ tăng 6,8%); trong đó: công nghiệp khai khoáng giảm 3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,8%.
Tốc độ tăng IIP hai tháng đầu năm của một số ngành chủ yếu: sản xuất trang phục tăng 15,3%; sản xuất da và sản phẩm tăng 19,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,5%; sản xuất đồ uống tăng 7,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,1%; sản xuất sản phẩm quang học tăng 10,4%; sản xuất kim loại giảm 2%...
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại thời điểm 01/02/2014 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 12,7% so với thời điểm năm trước (thời điểm năm trước tăng 19,9%).
b) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng, các địa phương phía Bắc đã tranh thủ thời gian các hồ thủy điện xả nước để bơm nước, đổ ải phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do thời tiết rét đậm rét hại kéo dài đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy lúa.
Về lúa đông xuân: đến ngày 15/02/2014, cả nước gieo cấy đạt 2.596,3 nghìn ha, bằng 98% so với cùng kỳ năm trước; trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy đạt 648,8 nghìn ha, bằng 96%.
Do xuống giống muộn hơn cùng kỳ năm trước nên sản lượng thu hoạch lúa đông xuân ở Đồng bằng sông Cửu Long mới đạt 232,1 nghìn ha, bằng 82,6%.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm: thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài tại các tỉnh miền núi phía Bắc đã ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn trâu, bò, đặc biệt, một số nơi nhiệt độ xuống quá thấp đã làm trâu, bò bị chết. Nguồn cung thịt lợn cho thị trường tiêu dùng trong dịp Tết được đảm bảo.
Sự bùng phát của dịch cúm gia cầm cùng với nguy cơ lây lan virus cúm H7N9 và H10N8 đã gây thiệt hại về kinh tế cũng như hoạt động chăn nuôi, đầu tư tái đàn của người dân. Thời tiết bất thường ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia cầm cùng với tình trạng vận chuyển, buôn bán gia cầm qua biên giới chưa được kiểm soát hoàn toàn là nguyên nhân chính gây nguy cơ lây lan dịch cúm cao.
Ước tính trong tháng 2/2014, đàn trâu cả nước giảm khoảng 2%; đàn bò giảm khoảng 1%; đàn lợn giảm nhẹ; đàn gia cầm tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.
Về lâm nghiệp: tính chung hai tháng đầu năm, diện tích trồng rừng tập trung ước đạt hơn 1,2 nghìn ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2013. Do thời tiết hanh khô nên nguy cơ cháy rừng tại một số địa bàn là rất cao, nhất là các tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc. Trong hai tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại khoảng 242,9 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy khoảng 226,6 ha.
 Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng trong hai tháng đầu năm ước đạt 768,8 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: nuôi trồng ước giảm 0,3%; khai thác ước tăng 4,3% (riêng khai thác biển tăng 4,7%).
Nuôi cá tra vẫn gặp khó khăn do giá cá tra nguyên liệu vẫn ở mức thấp, doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ... nhiều hộ chăn nuôi đã thu hẹp diện tích nuôi trồng dẫn đến sản lượng thu hoạch cá tra trong tháng giảm mạnh.
c) Khu vực dịch vụ
Thời gian nghỉ Tết khá dài đã tạo điều kiện để du khách lựa chọn những tour du lịch phù hợp. Thị trường hàng hóa, dịch vụ nhộn nhịp hơn, tập trung vào những ngày giáp Tết; hàng hóa bán trên thị trường cơ bản được niêm yết giá và bán theo giá niêm yết;hàng sản xuất trong nước tiếp tục chiếm lĩnh được thị trường, ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng với giá cả hợp lý chất lượng và mẫu mã, kiểu dáng không thua kém nhiều so với hàng nhập khẩu; nguồn cung hàng hóa khá dồi dào, phong phú, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết của người dân, đồng thời, không gây sự tăng giá đột biến.
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 2 tháng đầu năm ước tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2013, loại trừ yếu tố giá còn tăng khoảng 6,2%, cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ (cùng kỳ tăng 3,6%).
Vận chuyển hàng hóa ước tăng 4,2%; luân chuyển hàng hóa ước tăng 0,5%; vận chuyển hành khách ước tăng 5,1%; luân chuyển hành khách ước tăng 6,8%. Hoạt động vận chuyển và luân chuyển hàng hóa khu vực ngoài nước giảm nhẹ so với cùng kỳ, lần lượt ở mức giảm 0,2% và giảm 1,9%.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong hai tháng đầu năm ước đạt trên 1,61 triệu lượt, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm 2013 (cùng kỳ giảm 9,6%); trong đó: khách du lịch, nghỉ ngơi tăng 33,4%; khách đến công tác tăng 32,2%; khách thăm thân nhân tăng 34,1%.
d) Về phát triển doanh nghiệp
Trong hai tháng đầu năm, cả nước có khoảng 10,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký trên 62,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% về số doanh nghiệp và tăng 28,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013. Hai tháng đầu năm có khoảng 13,1 nghìn doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2013.
Về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước:theo các Đề án đã phê duyệt, do 3 năm 2011-2013 đạt thấp nên số doanh nghiệp cổ phần hóa còn lại trong 2 năm 2014-2015 là 432 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm 216 doanh nghiệp. Hiện tại, Chính phủ đang chỉ đạo các cấp các ngành khẩn trương đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Công tác sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh đạt được những kết quả tích cực, đã chuyển hầu hết các công ty nông, lâm nghiệp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Thí điểm cổ phần hóa 35 công ty, chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ 91 công ty, giải thể 36 công ty.
3. Về an sinh xã hội, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác
a) Về lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe
Về lao động, việc làm: trong tháng đầu năm, ước tạo việc làm khoảng 213,9 nghìn lao động, tăng 1,27%, trong đó xuất khẩu lao động gần14nghìn người, tăng 13,7%.
Lĩnh vực an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm thực hiện tốt, như: các cấp các ngành đã thực hiện nghiêm túc các Quyết định của Chủ tịch nước và của Thủ tướng Chính phủ về thăm hỏi, tặng quà đến các đối tượng người có công với cách mạng cũng như hỗ trợ gạo cứu đói dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2014. Quan tâm thực hiện các chính sách đối với người có công; chuẩn bị tốt cho cuộc Tổng rà soát chính sách người có công giai đoạn 2014 - 2015...   
b) Về văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
Các hoạt động văn hoá - nghệ thuật chuyên nghiệp, văn nghệ quần chúng với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân” được tổ chức rộng khắp với nội dung phong phú, chú trọng nâng cao chất lượng nghệ thuật phục vụ nhân dân đêm Giao thừa, trước, trong và sau Tết; ưu tiên phục vụ đồng bào, chiến sĩ vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đầu Xuân được tăng cường kiểm tra, bảo đảm vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm và đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngành thông tin - truyền thôngthực hiện nhiều chương trình truyền hình Mừng Đảng, Mừng Xuân Giáp Ngọ; đưa tin về các hoạt động của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước thăm hỏi, động viên, tặng quà Tết cho gia đình người có công, người nghèo, đồng bào, chiến sỹ vùng biên giới, hải đảo; đưa tin về các hoạt động đối ngoại của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước; các lễ hội truyền thống trên mọi miền tổ quốc; tích cực cập nhật tình hình tai nạn giao thông trong và sau Tết, diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm...  
Các hoạt động thể dục thể thao, nhất là các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian được tổ chức trên mọi miền của tổ quốc, tạo sân chơi lành mạnh, khí thế vui tươi sôi nổi, đoàn kết, thắm tình làng nghĩa xóm trong quần chúng nhân dân, đồng thời, bảo tồn nét đẹp văn hóa của cha ông để lại.
c) Về trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ
Về an toàn giao thông: theo Ủy ban ATGT Quốc gia, trong hai tháng đầu năm, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 4.834 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1.818 người, làm bị thương 4.741 người. So với cùng kỳ năm trước, tình hình tai nạn giao thông hai tháng đầu năm 2014 đã giảm cả 3 tiêu chí: số vụ tai nạn giao thông giảm 14,8%; số người chết giảm 5,6% và số người bị thương giảm 18,2%.
Tuy nhiên, tình hình tai nạn giao thông trong dịp Tết vẫn khá nghiêm trọng: tính riêng 9 ngày Tết, cả nước đã xảy ra 338 vụ TNGT từ ít nghiêm trọng trở lên, làm chết 286 người và làm bị thương 324 người chủ yếu do ý thức của người tham gia giao thông, như: không chấp hành các tín hiệu đèn giao thông; không đội mũ bảo hiểm; uống bia rượu và chạy quá tốc độ cho phép khi điều khiển phương tiện giao thông... nhất là tại các tuyến giao thông nông thôn.
Về tình hình cháy nổ: trong tháng 02/2014, cả nước xảy ra 317 vụ cháy, nổ, tăng 50,2% so với tháng trước; trong đó: có 309 vụ cháy, làm chết 8 người, bị thương 27 người, thiệt hại khoảng 24 tỷ đồng; có 8 vụ nổ, làm chết 3 người, làm bị thương 22 người.
Đánh giá chungtrong hai tháng đầu năm, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ và các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về bình ổn giá cả, thị trường, chuẩn bị cho nhân dân đón Tết Nguyên đán cũng như các nhiệm vụ cần triển khai thực hiện sau Tết Nguyên đán và đã đạt được những kết quả tích cực. Nguồn cung hàng hóa, dịch vụ dồi dào; hàng hóa sản xuất trong nước ngày càng chiếm lĩnh thị trường; giá cả thị trường trong và sau Tết khá ổn định, không có hiện tượng sốt giá, chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm đều tăng thấp so với cùng kỳ nhiều năm trước. Xuất khẩu tăng cao, có xuất siêu. Sản xuất công nghiệp tăng khá cao so với cùng kỳ; tồn kho giảm. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển; công tác cung ứng nguồn nước tưới tiêu được bảo đảm, phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân. Vốn ODA và FDI thực hiện tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Khu vực dịch vụ phát triển khá, khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh; hoạt động du lịch, du Xuân diễn ra sôi nổi; công tác tổ chức lễ hội được quan tâm chỉ đạo, bảo đảm vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn, phát huy. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; đời sống của người dân, đặc biệt là người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa được quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ được chú trọng tăng cường… bảo đảm mọi người dân đều được đón Tết, vui Xuân đầm ấm, an toàn.
Tuy nhiên, thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài đã làm hư hại hoa màu, thiệt hại về gia súc ở một số địa phương và ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy lúa; dịch bệnh trên gia cầm vẫn diễn biến phức tạp, có nguy cơ lan rộng, ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi và đời sống của người dân. Tình hình tai nạn giao thông, mặc dù đã có giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng số vụ tai nạn nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vẫn còn cao, tập trung vào thời điểm trong và sau Tết. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn ở mức khá cao. Tăng trưởng tín dụng vẫn còn ở mức thấp.
III. DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Dự báo tình hình kinh tế thế giới và trong nước thời gian tới
Kinh tế thế giới tiếp tục đón nhận những tín hiệu tích cực từ sự phục hồi của các nền kinh tế lớn. Sản lượng toàn cầu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với sự mở rộng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ tại các nền kinh tế phát triển, như: Anh, Mỹ, Nhật Bản và Ailen. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn cản trở sự phục hồi của kinh tế thế giới; tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vẫn chưa thực sự cải thiện.
Kinh tế Mỹ tiếp tục đà phục hồi: GDP của Mỹ Quý IV/2013 tăng 3,2%, mức tăng cao nhất kể từ Quý II/2009; tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống mức thấp nhất là 6,6% trong tháng 01/2014 kể từ tháng 10/2008; thâm hụt ngân sách giảm; đầu tư của khu vực doanh nghiệp tăng... Sự phục hồi tích cực của nền kinh tế là lý do chính để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục cắt giảm quy mô gói định lượng QE3 từ 85 tỷ USD/tháng xuống còn 75 tỷ USD/tháng trong tháng 12/2013 và xuống còn 65 tỷ USD/tháng kể từ cuối tháng 01/2014. Tuy nhiên, kinh tế Mỹ vẫn đang phải đối mặt với vấn đề nợ công tăng caoKinh tế châu Âu tiếp tục có những tín hiệu tích cực với sự phục hồi khá nhanh của khu vực sản xuất. Tuy nhiên, nền kinh tế khu vực này vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức cao và chưa có dấu hiệu cải thiệnKinh tế Nhật Bảntuy có dấu hiệu cải thiện hơn nhưng thiếu vững chắc: hoạt động sản xuất phục hồi nhưng không ổn định; thâm hụt thương mại tiếp tục trầm trọng hơn.
Tại nhiều nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, tốc độ tăng trưởng vẫn suy giảm, sản lượng hàng hóa dịch vụ tăng chậm hơn trong khi chỉ số phát triển (EMI) tiếp tục sụt giảm xuống mức thấp và chưa có dấu hiệu hồi phục. Tăng trưởng khu vực dịch vụ tại Ấn Độ và Brazil đều giảm trong khi tại Trung Quốc và Nga tăng chậm.
Về tình hình kinh tế trong nước:trong thời gian tới, với việc tích cực triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 và nỗ lực tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ngành, các cấp, sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến chế tạo sẽ tiếp tục phục hồi và chuyển biến tích cực; cầu tiêu dùng sẽ từng bước được cải thiện hơn; hoạt động xuất khẩu sẽ vẫntiếp tục duy trì đà tăng trưởng, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại tệ Nhà nước; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định.
2. Một số giải pháp cần triển khai trong thời gian tới
Các cấp, các ngành tích cực thực hiện nghiêm túc, quyết liệt và có hiệu quả các giải pháp chủ yếu đã đề ra trong các Nghị quyết của Quốc hội, các Nghị quyết của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ, tập trung vào một số giải pháp sau:
(1) Khẩn trương cụ thể hóa các giải pháp lớn đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ; triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển các nguồn vốn NSNN, TPCP... Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
(2) Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Triển khai các biện pháp khơi thông dòng vốn, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời kích thích tiêu dùng nội địa. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".
(3) Tiếp tục thực hiện và nhân rộng mô hình bình ổn giá; tăng cường các biện pháp quản lý giá cả, thị trường; đấu tranh chống buôn lậu, trốn thuế; tăng cường phối hợp công tác kiểm tra, kiểm dịch; giám sát chặt chẽ việc vận chuyển gia súc, gia cầm qua biên giới, hạn chế tối đa tình trạng thâm nhập, lây lan dịch bệnh qua biên giới.
(4) Các địa phương, tranh thủ thời tiết thuận lợi, đẩy nhanh tiến độ gieo cấy lúa đông xuân, đồng thời, phối hợp với các cơ quan liên quan và người dân thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm; khoanh vùng và kiên quyết xử lý triệt để các ổ dịch, tránh lây lan.
(5) Về an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội: triển khai các giải pháp hữu hiệu nhằm giảm ùn tắc tại các thành phố lớn và giảm thiểu tai nạn giao thông, như: siết chặt hoạt động kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện; kiểm soát có hiệu quả người điều khiển phương tiện sử dụng bia, rượu, ma túy... Tăng cường kiểm tra công tác phòng chống cháy nổ, nhất là tại các khu đông dân cư, nhà xưởng.
(6) Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, triển khai có hiệu quả Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để người dân hiểu rõ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo sự đồng thuận, tăng niềm tin cho người dân./.
Theo mpi.gov.vn