DIỄN ĐÀN

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 26528721
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 1124
  • Trong tuần: 19219
  • Trong tháng: 1116388
  • Trong năm: 18528721
Trang chủ | Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2014

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2014 ( 11:20 | 08/10/2014 )

Bản để inGửi bài này qua Email
Field gắn: 

Báo cáo số 6745/BC-BKHĐT ngày 30 tháng 9 năm 2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

1. Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 5,62%, cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ hai năm trước (2013: 5,14%; 2012: 5,1%); trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,42%; dịch vụ tăng 5,99%.
- Sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm duy trì đà phục hồi với chỉ số IIP tăng qua từng tháng và cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, chỉ số IIP tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 5,4%); trong đó: khai khoáng tăng 0,4%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,3%, sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6%.
   Chín tháng đầu năm ghi nhận sự tăng trưởng mạnh của công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số IIP của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Quý I tăng 7,4%; Quý II tăng 8,6% và Quý III tăng 9,5%.
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, đã khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra và đạt nhiều kết quả tích cực. Tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn ngành 9 tháng đầu năm tăng 3,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng 2,7% của cùng kỳ năm 2013, trong đó: nông nghiệp tăng 2,4%, lâm nghiệp tăng 6,1% và thủy sản tăng 6,5%. Ước tính sản lượng lúa cả năm 2014 đạt khoảng 44,86 triệu tấn, tăng 1,9% so với năm trước.
   Về xây dựng nông thôn mới: Qua gần 4 năm thực hiện, bình quân mức đạt các tiêu chí nông thôn mới trên cả nước là 8,62 tiêu chí/xã (tăng gần 4 tiêu chí/xã so với năm 2011), trong đó số xã đạt 19 tiêu chí: 185 xã, chiếm tỷ lệ 2,05%; các xã dưới 5 tiêu chí chỉ còn khoảng 17%.
- Về khu vực dịch vụ: Trong 9 tháng đầu năm, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng 6,2% (cùng kỳ tăng 5,3%); khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt trên 6 triệu lượt, tăng 10,4% (cùng kỳ đạt gần 5,5 triệu lượt, tăng 9,9%). Hoạt động vận tải và các dịch vụ khác tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân.
- Về xuất khẩu nhập khẩu: Xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng khá cao, có xuất siêu, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia. Trong 9 tháng đầu năm,tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 109,63 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013; tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt gần 107,2 tỷ USD, tăng 11,1%; xuất siêu 2,47 tỷ USD, bằng 2,25% tổng kim ngạch xuất khẩu.
2. Về mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2014tăng 0,4% so với tháng trước. So với tháng 12/2013, CPI tháng 9/2014 tăng 2,25%, mức tăng thấp nhất trong vòng 10 năm qua. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2014 tăng 3,62%; bình quân 9 tháng tăng 4,61%.
- Về thu - chi NSNN:Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/9/2014, tổng thu NSNN ước đạt 597,55 nghìn tỷ đồng, bằng 76,3% dự toán năm; tổng chi NSNN ước đạt 722,02 nghìn tỷ đồng, bằng 71,7% dự toán năm.
- Về đầu tư phát triển: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng đầu năm ước đạt khoảng 833,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ.
   Trong 9 tháng đầu năm, vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước đã tăng đáng kể cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, chiếm gần 38% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước.Vốn FDI thực hiệnước đạt 8,9 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ODA và vay ưu đãigiải ngân ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước.
3. Về các lĩnh vực xã hội
  Về giải quyết việc làm: Trong 9tháng đầu năm,ước giải quyết việc làm cho khoảng 1.167 nghìn lao động, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2013 và đạt 72,9% chỉ tiêu kế hoạch năm 2014.
   Về bảo đảm an toàn giao thông: Trong 9 tháng đầu năm, so với cùng kỳ năm 2013, trật tự an toàn giao thông tiếp tục có những chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông đã giảm mạnh ở cả 3 tiêu chí: Số vụ giảm 14,47%, số người chết giảm 4,01% và số người bị thương giảm 18,11%.
   Tiếp tục quan tâm thực hiện các chính sách bảo đảm an sinh xã hội đã ban hành, đồng thời rà soát, sửa đổi hoặc loại bỏ các chính sách, chương trình, đề án không còn phù hợp; khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác giảm nghèo (tính thiếu bền vững, tính trông chờ, ỷ lại,...). Quan tâm thực hiện các chính sách đối với gia đình sách, người có công; thực hiện sâu rộng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, như: Xây mới, sửa chữa nhà tình nghĩa; quan tâm đầu tư sửa chữa, nâng cấp mộ liệt sỹ, các công trình nghĩa trang liệt sỹ, đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sỹ, từng bước đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân; tích cực triển khai thực hiện việc xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin. Thực hiện các biện pháp phòng, chống lũ, lụt; giúp đỡ, hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra. Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; hỗ trợ đào tạo nghề,tư vấn giới thiệu việc làm. 
   Đánh giá chung,trong 9 tháng đầu năm, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ, các Nghị quyết của các phiên họp thường kỳ của Chính phủ, Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực. Nền kinh tế tiếp tục đà phục hồi trong tất cả các ngành, lĩnh vực chủ yếu. GDP Quý III tăng cao hơn mức tăng 2 quý trước và tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt cao hơn cùng kỳ hai năm trước.Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng cao hơn nhiều so cùng kỳ.Sản xuất nông nghiệp, đã khắc phục các tác động tiêu cực do thiên tai, dịch bệnh gây ra và đạt mức tăng trưởng cao hơn nhiều so với năm trước; năng suất và sản lượng lúa đông xuân tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển khá; khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao so với cùng kỳ. Xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng cao, tiếp tục có xuất siêu, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia; xuất khẩu khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước cải thiện đáng kể, đạt tốc độ tăng tương đương với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thấp, giá cả, thị trường khá ổn định. So với tháng 12/2013, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 có mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 10 năm qua. Lãi suất, tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định. Giải ngânvốn ODA và vay ưu đãi đạt khá; thu hút vốn FDI có chuyển biến tích cực bước đầu. Tiến độ thu NSNN tiếp tục đạt cao hơn cùng kỳ các năm trước, bảo đảm các nhu cầu chi của NSNN. Việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ, bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; công tác bảo đảm an toàn giao thông đạt nhiều kết quả tích cực.
   Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn còn ở mức cao; tiến độ sắp xếp, đổi mới DNNN tuy đã có chuyển biến nhưng vẫn đạt thấp so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 2011-2015. Thiên tai, lũ lụt gây thiệt hại về người và tài sản; ở một số địa phương, tình trạng cháy rừng vẫn còn diễn biến phức tạp. Đời sống nhân dân vùng bị thiên tai, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn./.
Theo mpi.gov.vn