DIỄN ĐÀN

 

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 28515293
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 944
  • Trong tuần: 28511
  • Trong tháng: 86901
  • Trong năm: 1046626
Trang chủ

Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 tỉnh Bắc Giang ( 15:20 | 01/07/2018 )

Bản để inGửi bài này qua Email

Năm 2018 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016- 2020. Để thực hiện thắng lợicác mục tiêu,nhiệm vụnăm 2018, ngay từ đầu năm UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ và các nghị quyết của HĐND tỉnh về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước.

Chú trọng phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh trật tự; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật và sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách hành chính, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, tinh giản biên chế; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí…

Chủ tịch UBND tỉnh giao nhiệm vụ cho người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, trọng tâm là những việc lớn có sức lan tỏa, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong cácngành,lĩnh vực. Các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh đồng thuận, đổi mới sáng tạovàhành động quyết liệt, do vậy kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm đã đạt được kết quả khá toàn diện, nổi bật trên hầu hết các lĩnh vực. Kết quả đạt được cụ thể như sau:

I. LĨNH VỰC KINH TẾ, ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tiếp tục đà tăng trưởng năm 2017, kinh tế 6 tháng đầu năm 2018 tiếp tục phát triển tích cực. Tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt mức cao nhất từ trước đến nay, ước đạt 13,3%([1]), xếp thứ 4/63 tỉnh, thành và đứng đầu trong 14 tỉnh vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Trong đó: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, công nghiệp - xây dựng tăng 21,6% (công nghiệp tăng 23,9%, xây dựng tăng 11,0%), dịch vụ tăng 6,8%.

Quy mô GRDP của tỉnh (theo giá hiện hành) ước đạt 40.055 tỷ đồng, đạt 48,3% kế hoạch; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 8.370 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng ước đạt 20.205 tỷ đồng, dịch vụ ước đạt 11.000 tỷ đồng, thuế sản phẩm ước đạt 480 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, chiếm 51,1%; dịch vụ chiếm 27,8%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 21,1%.

2. Sản xuất công nghiệp

UBND tỉnh tập trung chỉ đạo đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng các KCN, CCN để đẩy mạnh thu hút đầu tư([2]);  chủ động nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh, triển khai các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp; thực hiện hiệu quả các hoạt động khuyến công, tư vấn, hỗ trợ phát triển công nghiệp.Do vậy, sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng mạnh, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp cao nhất trong nhiều năm gần đây([3]).

Các ngành sản xuất đều có tăng khá, các dự án thu hút đầu tư từ những năm trước đã đi vào hoạt động, phát huy hiệu quả góp phần quan trọng cho tăng trưởng toàn ngành. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6tháng (IIP) bằng 124% so với cùng kỳ([4])(cùng kỳ bằng 119,3% năm 2016). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với những ngành, sản phẩm quan trọng tiếp tục là động chính cho tăng trưởng([5]). Giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng (giá 2010) ước đạt 53.840 tỷ đồng, tăng 25,6%, đạt 46,4% kế hoạch; trong đó: Khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 1.750 tỷ đồng, tăng 29,0%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 7.795 tỷ đồng, tăng 18,0%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 44.285 tỷ đồng, tăng 27,0%([6]).

Khu vực (FDI) chiếm tỷ trọng chi phối trong giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ trọng tiếp tục tăng (hiện chiếm 82,3%, tăng 0,9%). Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều có mức tăng khá,trong đó nổi bật là khoảng 10 doanh nghiệp có giá trị sản xuất trên 1.000 tỷ đồng đóng góp lớn cho tăng trưởng([7]). Sản lượng của các doanh nghiệp nhà nước lớn như: Nhà máy nhiệt điện Sơn Động, Công ty MTV Than 45, Công ty đạm Hà Bắc... tăng mạnh góp phần đưa giá trị sản xuất Khu vực doanh nghiệp nhà nước có mức tăng cao nhất trong 3 khu vực kinh tế. Trong khi đó, Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước nhìn chung ổn định, giá trị sản xuất có mức tăng cao hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 12,1%).

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tích cực triển khai các đề án, chính sách hỗ trợ sản xuất, chú trọng hỗ trợ, phát triển triển nông nghiệp công nghệ cao; chủ động các phương án phòng, chống, khắc phục thiệt hại cho cây trồng, vật nuôi; thực hiện dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu; tập trung tu sửa, nạo vét kênh, mương đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới([8])... Do vậy, sản xuất nông nghiệp 6 tháng đạt kết quả khá, tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản ước đạt 2,9% (cùng kỳ đạt 2,0%), trong đó nông nghiệp tăng 2,7%, lâm nghiệp tăng 5,1%, thủy sản tăng 6,1%. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệpvà thủy sản (giá 2010) ước đạt 10.410 tỷ đồng, tăng 2,9%.

3.1. Nông nghiệp

Ngành nông nghiệp trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, các chính sách phát triển trồng trọt, chăn nuôi của tỉnh phát huy hiệu quả. Sản lượng vải sớm tăng 67%, sản lượng rau màu các loại tăng 7%... đã góp phần quan trọng đưa giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp cao hơn cùng kỳ (cùng kỳ tăng 2,0%).

- Ngành trồng trọt:Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông - Xuân ước đạt 98.710 ha, bằng 97,3%; năng suất lúa và các loại cây trồng tiếp tục được nâng lên([9]) so với cùng kỳ([10]). Cơ cấu các loại cây trồng được chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao([11]).  Sản lượng vải thiều năm 2018 ước đạt trên 215 nghìn tấn, tăng trên 100 nghìn tấn so với cùng kỳ, trong đó vải sớm ước đạt 36 nghìn tấn, vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP ước đạt 92 nghìn tấn.

Sản xuất quy mô lớn, hợp tác liên kết theo chuỗi giá trị có xu hướng tăng, các quy trình sản xuất tiên tiến như VietGAP, Global GAP, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao... được phổ biến và nhân rộng([12]). Các địa phương đã thực hiện dồn điền, đổi thửa giao ruộng xong trên thực địa được 3.422ha, đạt 48% kế hoạch.

- Ngành chăn nuôi: Chăn nuôi có sự chuyển biến về tổ chức sản xuất theo hướng chăn nuôi trang trại, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao([13]). Công tác kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh thú y, thủy sản được quan tâm chỉ đạo, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn phát sinh. Tổng đàn vật nuôi trên địa bàn tỉnh tăng, trong đó đàn lợn 1,132 triệu con, tăng 0,7%, đàn gà 12,6 triệu con, tăng 1,3%. Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 133,5 nghìn tấn, bằng 99%, đạt 58% kế hoạch. Hiện nay giá lợn, gà tăng lên, người dân bắt đầu tái đàn; tuy nhiên, việc tái đàn còn chậm.

3.2. Thủy sản

Phát triển thủy sản theo hướng VietGAP, an toàn sinh học được mở rộng, đến nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 500ha được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Một số mô hình sản xuất mới đã được triển khai cho kết quả khả quan có thể nhân rộng như: Mô hình sản xuất giống cá rô phi Đài Loan áp dụng công nghệ chuyển đổi hoocmone giới tính; mô hình nuôi siêu thâm canh “sông trong ao” (IPA). Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 21.210 tấn, tăng 7%, đạt 49,3% kế hoạch.

3.3. Sản xuất lâm nghiệp

Công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ phát triển rừng được quan tâm. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 249-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. Trong 6 tháng, toàn tỉnh đã trồng được 4.950ha rừng tập trung, đạt 99% kế hoạch. Sản lượng khai thác gỗ 6 tháng đầu năm ước đạt trên 280.000 m3, tăng 6,1%, bằng 70% kế hoạch. Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Số vụ vi phạm về chặt phá rừng tự nhiên trái phép và tình trạng cháy rừng giảm mạnh([14]). Tỷ lệ che phủ rừng đạt 37,3%, bằng 100% kế hoạch.

3.4. Xây dựng nông thôn mới

Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tiếp tục được tập trung cao. UBND tỉnh đã ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh, xây dựng Đề án "Chương trình mỗi xã một sản phẩm" giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030; chỉ đạo nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới ở các xã đạt chuẩn nhất là các tiêu chí liên quan trược tiếp đến người dân như: thu nhập, tổ chức sản xuất, giao thông nông thôn, vệ sinh môi trường, nước sạch...Trong 6 tháng, có 04 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, lũy kế có 72 xã, đạt tỷ lệ 35,4% (cả nước đạt 38,6%); số tiêu chí bình quân đạt 14 tiêu chí/xã. Thành phố Bắc Giang và huyện Việt Yên có 100% xã được công nhận đạt chuẩn, hiện đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị Chính phủ công nhận thành phố Bắc Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, huyện Việt Yên đạt chuẩn huyện Nông thôn mới (huyện đã cơ bản hoàn thành 8/9 tiêu chí, riêng tiêu chí môi trường dự kiến hoàn thành trong tháng 8).

4. Dịch vụ

Ngành dịch vụ tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình; giá trị sản xuất dịch vụ (giá 2010) ước đạt 10.630 tỷ đồng, tăng 9,8%.

4.1. Hoạt động thương mại

Hoạt động kinh doanh thương mại duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng ước đạt 11.997 tỷ đồng, tăng 12,5%, đạt 47% kế hoạch. Các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra phát hiện, bắt giữ, xử lý nhiều mặt hàng cấm, hàng nhập lậu từ biên giới([15]).

          Công tác xúc tiến tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm nông sản chủ lực, đặc trưng của tỉnh tiếp tục được đổi mới, sáng tạo và hiệu quả. Trong đó đã tổ chứcthành công Diễn đàn kinh tế về sản xuất, tiêu thụ vải thiều và nông sản chủ lực, đây là hoạt động xúc tiến thương mại có quy mô lớn nhất từ trước đến nay và nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố trong cả nước và các đối tác thương mại. Vải thiều tiêu thụ khá thuận lợi, giá vải bình quân khoảng 16.000 đ/kg; doanh thu ước đạt 3.440 tỷ đồng, doanh thu từ các dịch vụ hỗ trợ khácước đạt 2.293 tỷ đồng([16]). Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khoảng 67.500 tấn, doanh thu ước đạt 118,5 triệu USD.

Giá trị xuất nhập khẩu thông qua Chi cục Hải quan Bắc Giang tiếp tục tăng cao; giá trịxuất khẩu 6 tháng ước đạt 3.140 triệu USD, tăng 17,0%, đạt 40,3% kế hoạch; nhập khẩu đạt 3.000 triệu USD, tăng 20,5%, đạt 40,0% kế hoạch. Hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên phụ liệu cho sản xuất, gia công hàng xuất khẩu như: may mặc, sản xuất linh kiện điện tử, máy móc thiết bị…

4.2. Dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Dịch vụ tài chính, ngân hàng tiếp tục phát triển. Trên địa bàn hiện có 19 chi nhánh ngân hàng cấp 1; 12 chi nhánh ngân hàng cấp 2; 73 phòng giao dịch và 20 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực hiện kinh doanh tiền tệ. Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tài chính ngân hàng và bảo hiểm (giá 2010)đạt 780 tỷ đồng, tăng 7,7%. Hoạt động tín dụng trên địa bàn có nhiều khởi sắc, tăng trưởng tín dụng cao hơn cùng kỳ, nợ xấu được kiểm soát. Ước đến 30/6/2018, tổng nguồn vốn huy động đạt 42.445 tỷ đồng, tăng 4.860 tỷ đồng (12,3%); dư nợ tín dụng đạt 42.875 tỷ đồng, tăng 4.045 tỷ đồng (10,4%) so với 31/12/2017; nợ xấu còn 335 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,78% tổng dư nợ, giảm 0,22% so với 31/12/2018.

4.3. Dịch vụ giao thông vận tải và bưu chính, viễn thông

Dịch vụ giao thông vận tải tiếp tục phát triển khá. UBND tỉnh tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng giao thông; nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo trì đường bộ; tập trung hỗ trợ triển khai Trung tâm Logistics quốc tế thành phố Bắc Giang, một số dự án cảng đường sông; đưa tuyến xe buýt Bắc Giang - Chùa Vĩnh Nghiêm - Tây Yên Tử vào hoạt động....Bên cạnh đó, sản xuất kinh doanh thuận lợi, nhu cầu vận chuyển, xây dựng và nhu cầu đi lại của người lao động, người dân tăng cao đã góp phần nânggiá trị tăng thêm ngành dịch vụ vận tải kho bãi (giá 2010) đạt 680 tỷ đồng, tăng 6,8%. Khối lượng vận chuyển hành khách đạt trên 12,9 triệu lượt người, tăng 6,7%, khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt trên 14,4 triệu tấn, tăng 18,3%.

Hạ tầng bưu chính viễn thông tiếp tục được đầu tư theo hướng hiện đại với công nghệ cao. Các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư phát triển, nâng cấp hạ tầng mạng lưới, mở rộng các loại hình dịch vụ (3G, 4G). Thông tin liên lạc thông suốt, từng bước đáp ứng yêu cầu trong chỉ đạo điều hành và nhu của nhân dân. Giá trị tăng thêm ngành viễn thông ước đạt 830 tỷ đồng, tăng 4,9%.

4.4. Dịch vụ du lịch

Công tác quảng bá phát triển du lịch được quan tâm. Tập trung xây dựng cơ chế chính sách, triển khai các chính sách về du lịch([17]); tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các dự án phát triển du lịch, trọng tâm đẩy nhanh tiến độ dự án du lịch trọng điểm Khu du lịch sinh thái - tâm linh Tây Yên Tử; hỗ trợ nhà đầu tư nghiên cứu xây dựngquần thể Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, thể thao và vui chơi giải trí tại Hồ Khuôn Thần huyện Lục Ngạn, khu du lịch sinh thái khe Hang Dầu... Trong 6 tháng, toàn tỉnh có khoảng 950 nghìn lượt khách du lịch, tăng 14,5%, đạt 63,3% kế hoạch.

5. Thu, chi ngân sách nhà nước

Công tác thu ngân sách được triển khai đồng bộ, quyết liệt ngay từ đầu năm. UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai các biện pháp nhằmquản lý,khai thác triệt để các nguồn thu, tăng cường thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu hồi nợ đọng tiền thuế; triển khai áp dụng hệ thống dịch vụ thuế điện tử (Etax), đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng ước đạt 5.103 tỷ đồng, bằng 80,1% dự toán, tăng 74,2%; trong đó thu nội địa ước đạt 4.639 tỷ đồng, bằng 91,5% dự toán, tăng 90,4%, thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số kiến thiết đạt 1.709 tỷ đồng, bằng 54,5% dự toán, tăng 30,1%. Có 11/15 chỉ tiêu, khu vực thu đạt trên 50% dự toán([18]); 05/16 chỉ tiêu, khu vực thu đạt dưới 50% dự toán([19]). Tính riêng trong 5 tháng đầu năm, tiến độ thu ngân sách nội địa của tỉnh đứng đầu cả nước (bình quân cả nước đạt 77,5%), thu nội địa trừ tiền sử dụng đất đứng thứ 19/63 tỉnh thành(bình quân cả nước 45,8%). Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 6.660 tỷ đồng, tăng 28,4%, bằng 50,1% dự toán; trong đó, chi thường xuyên đạt 3.945 tỷ đồng, tăng 7,6%, bằng 49,1% dự toán.

Công tác thu hồi, xử lý nợ đọng thuế được triển khai quyết liệt với nhiều biện pháp và đạt được kết quả nhất định([20]). Tổng số nợ đọng thuế ước đến 30/6/2018 là 532,3 tỷ đồng, tăng 40,9 tỷ đồng (trong đó tiền phạt chậm nộp là 149,4 tỷ đồng)([21]).

6. Đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 16.085 tỷ đồng, đạt 39,7% kế hoạch, tăng 13,0% so với cùng kỳ; trong đó vốn khu vực nhà nước đạt 2.145 tỷ đồng, tăng 47,2%; vốn khu vực ngoài nhà nước đạt 10.855 tỷ đồng tăng 7,7%; vốn đầu tư nước ngoài đạt 3.085 tỷ đồng, tăng 14,3%.

6.1. Thực hiện kế hoạch đầu tư công

Công tác quản lý đầu tư và xây dựng được quan tâm, chỉ đạo từ quy hoạch, xây dựng kế hoạch, phân bổ vốn, quản lý đầu tư và xây dựng, triển khai khác phục những tồn tại hạn chế về chấp hành pháp luật về đấu thầu trên địa bàn tỉnh theo kết quả giám sát của HĐND tỉnh. UBND tỉnh đã chỉ đạo hoàn thành các thủ tục khởi công mới dự án Đường vành đai IV (Hà Nội); Đường nối từ ĐT293 vào cảng Mỹ An...; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư trọng điểm như: Đường tỉnh 293 đoạn bổ sung (đoạn km73+300-Km86+996); Cải tạo, nâng cấp ĐT 295; hạ tầng và Nhà thi đấu thể thao tỉnh; Khu số 1, số 2 thuộc Khu đô thị phía Nam thành phố Bắc Giang...

Tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2018 đến ngày 30/6/2018là 5.562 tỷ đồng (bao gồm cả vốn của các bộ ngành Trung ương)([22]). Tỷ lệ khối lượng thực hiện và giải ngân đạt cao hơn cùng kỳ; giá trị khối lượng thực hiện đạt 3.155 tỷ đồng, bằng 57% kế hoạch; giá trị giải ngân đạt 2.950 tỷ đồng, bằng 53% kế hoạch (cùng kỳ thực hiện đạt 41,5%, giải ngân đạt 35,5% kế hoạch vốn). Tính riêng 5 tháng đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đứng thứ 17 cả nước.

 Nợ đọng XDCB nguồn vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh được tập trung chỉ đạo xử lý quyết liệt. Chủ tịch UBND tỉnh đã gắn trách nhiệm người đứng đầu trong việc xử lý nợ đọng XDCB thông qua việc chấm điểm, đánh giá, xếp loại cuối năm. Nợ đọng xây dựng giảm mạnh, nợ đọng XDCB đến ngày 31/5/2018là 408,7tỷ đồng, giảm 194,3 tỷ đồng (giảm 32,3%).

6.2. Huy động các nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu

Công tác huy động các nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông được đặc biệt quan tâm, đạt được một số kết quả quan trọng([23]). Toàn tỉnh hiện đang triển khai thực hiện 07 dự án BT, với tổng mức đầu tư khoảng 3.037 tỷ đồng; đã có 02 dự án được khởi công và triển khaiđảm bảo tiến độ theo hợp đồng; các dự án còn lại đã hoàn thành công táclựa chọn nhà đầu tư. Ngoài ra, UBND tỉnh đang nghiên cứu triển khai bổ sung thêm 08 dự án BT về giao thông, tổng mức đầu tư khoảng 1.746 tỷ đồng.  

Công tác phát triển đô thị được quan tâm,phát triển theo quy hoạch, trọng tâm là các khu đô thị, khu dân cư mới. Trong 6 tháng, UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 4 dự án khu đô thị, khu dân cư với tổng mức đầu tư trên 480 tỷ đồng, 01 dự án nhà ở thương mại, tổng mức đầu tư trên 220 tỷ đồng. Đến nay toàn tỉnh có 17 đô thị([24]), tỷ lệ dân số đô thị đạt 14,9%.

UBND tỉnh đã phê duyệt điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ cứng hóa đường trục thôn, đường liên thôn và đường nội đồng gắn với giao thông liên thôn trên địa bàn tỉnh năm 2018. Đến hết tháng 5/2018, có 7/9 huyện triển khai thực hiện hỗ trợ 35.095 tấn xi măng, đạt 16,4%, cứng hoá được 140 km, bằng 15,5% kế hoạch([25]).

6.3. Cải thiện môi trường đâu tư; thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

a. Cải thiện môi trường đầu tư

UBND tỉnh tiếp tục xác định cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2018. Triển khai Nghị quyết 19-2018/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh năm 2018 và những năm tiếp theo; tổ chức rà soát, đánh giá tổng thể, toàn diện về các dự án đã thu hút đầu tư của tỉnh và triển khai xây dựng Đề án nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư; tổ chức đánh giá sơ kết 02 năm thực hiện Nghị quyết 73-NQ/TU của Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh... Môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh tiếp tục được cải thiện, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2017 đạt 62,2 điểm, xếp hạng 30/63 tỉnh, thành phố (tăng 03 bậc so với năm 2016), xếp thứ 4/14 tỉnh trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.

b. Thu hút đầu tư

Tính đến 30/6/2018, toàn tỉnh cấp mới và điều chỉnh cho 118 dự án đầu tư, bằng 95,9%, tổng số vốn đăng ký quy đổi đạt 312 triệu USD, bằng 17,3% so với cùng kỳ; trong đó: Cấp mới 59dự án đầu tư trong nước, bằng 90,77%, tổng vốn đăng ký 783tỷ đồng, bằng3,3%, điều chỉnh tăng vốn cho 6 dự án trong nước với số vốn tăng thêm đạt 354 tỷ đồng; cấp mới 30dự án FDI, bằng 90,9%, vốn đăng ký 109,5 triệu USD bằng 21,3%, điều chỉnh 23 dự án FDI với tổng vốn tăng thêm là 142,1 triệu USD. Mặc dù kết quả thu hút vốn FDI đạt thấp hơn so với cùng kỳ, song vẫn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về số dự án và số vốn thu hút mới([26]) .

Các dự án đầu tư được cấp mới trong nước tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thương mại dịch vụ với 46 dự án (chiếm 78,0%), vốn đăng ký 502 tỷ đồng (chiếm 64,1%), 9 dự án trong lĩnh vực công nghiệp (chiếm 15,3%), tổng vốn đăng ký đạt 210 tỷ đồng (chiếm 26,8%) và 04 dự án trong lĩnh vực nông nghiệp (chiếm 8,5%), tổng vốn đăng ký 71 tỷ đồng (chiếm 9,1%). Trong khi đó các dự án FDI chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp với 29 dự án (chiếm 96,7%), vốn đăng ký đạt 109,3 triệu USD (chiếm 99,8%). Vốn thực hiện của các dự án đầu tư trong nước đạt khoảng 2.650 tỷ đồng, tăng 20,5%; vốn FDI đạt 137 triệu USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ.

c. Phát triển doanh nghiệp

Tính đến 30/6/2018, có 614 doanh nghiệp được thành lập mới, bằng 97,5%cùng kỳ, đạt 41,0% kế hoạch(đứng thứ 17/63 tỉnh thành và thứ 1/14 tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc). Tổng số vốn đăng ký là 5.043tỷ đồng, bằng75,4% so với cùng kỳ.Tổng vốn thực hiện của các doanh nghiệp đạt 3.080 tỷ đồng, tăng 6,7%. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 86 đơn vị.

Tích cực triển khai tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch. Đến nay đã cơ bản chuyển đổi xong Công ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang; rà soát, xây dựng phương án và lộ trình chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần đối với 07 đơn vị; hoàn thiện hồ sơ thoái vốn tại Công ty cổ phần xây dựng giao thông. Thực hiện xong các bước giải thể Công ty lâm nghiệp Sơn Động và đã sắp xếp tinh gọn được 02 công ty thủy nông (giảm được 48 lao động, tiết kiệm được khoảng 2,5 tỷ đồng/năm).

Tiếp tục quan tâmhỗ trợ , tạo điều kiện phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn. Từ đầu năm đến nay đã có 52 HTX thành lập mới, gấp 2 lần so với cùng kỳ; trong đó có40 HTXthuộc lĩnh vực nông nghiệp, gấp 2,7 lần, 12 HTXthuộc lĩnh vực phi nông nghiệp, tăng 33,3%([27])

7. Công tác quản lý tài nguyên và môi trường

Công tác quản lý đất đai được tăng cường([28]). Trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã cấp được 212 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, với diện tích 143ha, đạt 212% kế hoạch; cấp mới 6.065 giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cấp đổi 5.065 giấy, đạt 35,2% kế hoạch; cấp được 19.679 giấy chứng nhận sau dồn điền, đổi thửa với diện tích 3.183 ha, đạt 27,8%.

Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng được tập trung cao. Các địa phương đã thu hồi, bồi thường và chuyển mục đích khoảng 190/684 công trình, dự án với tổng diện tích khoảng 350 ha, trong đó có khoảng 310/1.359ha đất trồng lúa. Tích cực tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ bồi thường, GPMB các dự án trọng điểm([29]). Tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chuyển mục đích sử dụng 157,7 ha đất trồng lúa sang thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác quản lý môi trường và bảo vệ tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước được chú trọng. Tiếp tục thực hiện nghiêm Kết luận 43-KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về một số chủ trương, chỉ đạo giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn. Triển khai quy định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh. Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Bộ tiêu chí đánh giá, lựa chọn nhà đầu tư; triển khai các bước lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án Nhà máy xử lý rác thải thành phố Bắc Giang. Kiểm tra, xử lý các hoạt động gây ô nhiễm môi trường theo phản ánh của người dân([30]). Quản lý chặt chẽ việc khai thác khoáng sản trên địa bàn, tập trung tuần tra, kiểm soát ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt là khai thác đất san lấp mặt bằng và khai thác cát, sỏi lòng sông. Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt 59,5%, tăng 2,3% so với năm 2017.

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA, XÃ HỘI

1. Giáo dục và đào tạo

Tiếp tục triển khai sáp nhập một số trường tiểu học, THCS có quy mô nhỏ phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực, cơ sở vật chất hiện có. Quy mô trường, lớp ổn định, phát triển hợp lý. Toàn tỉnh hiện có 822 cơ sở giáo dục (giảm 10 cơ sở so với năm học 2016-2017). UBND tỉnh tập trung nguồn lực thực hiện Đề án xây dựng cơ sở vật chất mầm non giai đoạn 2015-2010; đề án đẩy mạnh tin học và ứng dụng công nghệ thông tin trong các trường phổ thông giai đoạn 2017-2020…; đồng thời tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất([31]). Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 86,5%, tăng 1,7%, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 83,2%, tăng 2,0%.

Triển khai rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy nhân sự ở các cơ sở giáo dục; tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ có chuyển biến tích cực([32]). Toàn tỉnh có 2.280 cán bộ quản lý, 23.280 giáo viên, 2.480 nhân viên (giảm 53 cán bộ quản lý, 111 nhân viên). Triển khai đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý các cấp học để có kế hoạch bồi dưỡng và tinh giản biên chế theo quy định.

Triển khai hiệu quả Kế hoạch về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học, đánh giá học sinh tiểu học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; giáo dục học sinh trung học theo hướng mở, tích hợp liên môn, tổng hợp, kết hợp lý thuyết với thực hành; tăng cường giáo dục nhân cách, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục pháp luật và ý thức công dân cho học sinh, sinh viên... Chất lượng giáo dục duy trì ổn định, giữ vững trong tốp dẫn đầu trong cả nước([33]). Công tác quản lý đối với các khoản thu trong dạy thêm, học thêm và các khoản thu đầu năm học được tăng cường, có chuyển biến tích cực.

2. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân

UBND tỉnh đã tiếp tục tập trung đầu tư phát triển về cở sở vật chất, trang thiết bị y tế([34]). Các Bệnh viện, Trung tâm y tế tiếp tục được đầu tư phát triển về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, phát triển các khoa, phòng mang tính chuyên sâu, từng bước hiện đại hoá trang thiết bị,  nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời triển khai thực hiện cơ chế tự chủ([35]). Tỷ lệ số xã/phường/thị trấn đạt bộ tiêu chí Quốc gia về y tế là 94,7%, tăng 3,8%; số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 24,6 giường (tăng 1,6 giường), đạt 100% kế hoạch.

Các bệnh viện tích cực ứng dụng, phát triển kỹ thuật cao, thực hiện cải cách hành chính; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sỹ([36]); chất lượng công tác khám chữa bệnh tiếp tục được nâng lên. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn được chủ động triển khai, hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm từ tỉnh đến xã duy trì hiệu quả. Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn, nguy hiểm, các bệnh truyền nhiễm có số mắc thấp hơn và tương đương so với cùng kỳ năm 2017. Công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân được tăng cường([37]).  

Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có chuyển biến tích cực. Chỉ đạo triển khai hoạt động truyền thông, kiểm tra liên ngành, chuyên ngành về ATTP đối với các cơ sở thực phẩm. Đã kiểm tra, phát hiện 427 cơ sở có vi phạm về ATTP, tiến hành xử phạt 45 vụ vi phạm, số tiền trên 120 triệu đồng, nhắc nhở khắc phục 382 cơ sở; trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm tập thể.

Triển khai thực hiện Kế hoạch số 45-KH/TU của Tỉnh ủy về công tác dân số trong tình hình mới. Ước đến 30/6/2018, dân số là 1.678.000 người; số trẻ em sinh ra là 12.150 trẻ, giảm 88 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh nam/100 nữ là 113, giảm 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Toàn tỉnh có 1.563.710 người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 93,5 %, tăng 4,2% so với cùng kỳ, tăng 1,5% so với 31/12/2017.

3. Văn hóa, thể thao, thông tin

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị về việc chấn chỉnh thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức rộng khắp với nhiều hình thức phong phú, đáp ứng nhu cầu của nhân dân([38]). Công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa dân dộc được tăng cường gắn với tăng cường quản lý, chỉ đạo và tổ chức lễ hội. Tập trung triển khai quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà; tổ chức thành công lễ khai hội xuân Tây Yên Tử ...

Phong trào thể dục thể thao gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục duy trì và phát triển mẽ cả về số lượng và chất lượng, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia; thể thao thành tích cao có nhiều tiến bộ([39]). UBND tỉnh đang chỉ đạo chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên tham dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII năm 2018.

Công tác quản lý các hoạt động thông tin, báo chí được tăng cường, bám sát chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh; định hướng, hướng dẫn các nhà báo, phóng viên cộng tác viên của các cơ quan báo chí hoạt động trên địa bàn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Công tác ứng dụng CNTT tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, tỉnh Bắc Giang luôn xếp hạng khá về mức độ sẵn sàng ứng dụng và phát triển CNTT([40])

4. Khoa học và công nghệ

Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được tăng cường. Chất lượng đề tài, dự án hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở địa phương. Toàn tỉnh hiện đang triển khai 63 nhiệm vụ khoa học công nghệ, trong đó có 03 nhiệm vụ cấp quốc gia; 32 nhiệm vụ cấp tỉnh; 28 nhiệm vụ cấp cơ sở. Bên cạnh đó, tỉnh có thêm 09 nhiệm vụ cấp quốc gia được Bộ Khoa học và Công nghệ chấp thuận. Các hoạt động ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ được đẩy mạnh, tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn...  

Công tác xây dựng thương hiệu và quảng bá thương hiệu được quan tâm, qua đó làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. Đã tổ chức trao văn bằng bảo hộ nhãn hiệu trong nước và nước ngoài cho một số sản phẩm nông sản của tỉnh như: mỳ Chũ, mỳ Kế, gà đồi Yên Thế, vải thiều Lục Ngạn, bưởi Hiệp Hòa, chè Yên Thế, rau sạch Yên Dũng, vú sữa Tân Yên.

5. Tình hình đời sống nhân dân, lao động, việc làm và chính sách xã hội

Đời sống nhân dân cơ bản ổn định; các chế độ chính sách đối với người có công, đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, phát huy hiệu quả([41]). Các chính sách giảm nghèo tiếp tục được thực hiện tích cực, đời sống nhân dân ổn định từng bước được nâng lên([42]). Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo đẩy nhanh thực hiện hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg, ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Hoạt động quản lý nhà nước về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội được tăng cường. Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp ổn định, các chế độ chính sách Bảo hiểm xã hội, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động đối với người lao động đã được doanh nghiệp quan tâm, số vụ đình công, ngừng việt tập thể giảm so với cùng kỳ([43]). Tính đến 31/5/2018, toàn tỉnh có2.280 doanh nghiệp đóng BHXH cho người lao động (chiếm khoảng 61% doanh nghiệp đang hoạt động); có gần 217.200ngườitham gia bảo hiểm xã hội, 200.064 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Nợ BHXH ước đến 30/6/2018 là 135tỷ đồng (giảm 6,3 tỷđồng).

Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm tiếp tục được quan tâm([44]); 6 tháng đầu năm 2018, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh và đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên cho 12.108 người đạt 42,5% kế hoạch, tăng 54% so với cùng kỳ. Số lao động được tạo việc làm là 16.610 người, đạt 55,3% kế hoạch, tăng 12,4%; trong đó xuất khẩu lao động 2.205 người, đạt 46,9% kế hoạch, tăng 19,2%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,5%, giảm 0,3%. 

III. LĨNH VỰC NỘI CHÍNH

1. Công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực hiệu quả điều hành của nhà nước

Công tác cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước tiếp tục được tập trung chỉ đạo. UBND tỉnh đã xếp hạng và đánh giá công tác cải cách hành chính năm 2017 cho các sở, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, các huyện, thành phố([45]); tăng cường rà soát, cắt giảm từ 25-30% thời gian giải quyết đối với tất cả các thủ tục hành chính có thời hạn giải quyết từ 15 ngày trở lên; triển khai 100% thủ tục hành chính của các sở, ngành tại Trung tâm hành chính công tỉnh... Toàn tỉnh có 2.127 thủ tục hành chính trong đó có 1.912 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1, 2; 667 dịch vụ mức độ 3; 103 dịch vụ mức độ 4 được cung cấp trên trang thông tin điện tử. Trong 6 tháng, Trung tâm hành chính công đã tiếp nhận xử lý 30.047 hồ sơ, trong đó tiếp nhận mới 25.463 hồ sơ, đã giải quyết đúng và trước hạn 29.052 hồ sơ đạt tỷ lệ 96,7%.

Công tác cải cách tổ chức bộ máy hành chínhnhà nước, nâng cao năng lực hiệu quả điều hành được thực hiện quyết liệt. Tập trung kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan hành chính nhà nước thống nhất từ tỉnh đến cơ sở, bảo đảm tính thông suốt trong quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực([46]). Tăng cường sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết số 140-NQ/TU ngày 22/9/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy([47]). Tiếp tục tổ chức rà soát, xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức([48])

2. Công tác tư pháp, thi hành án dân sự

Các hoạt động xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến giáo dục pháp luật được quan tâm. Ban hành Kế hoạch hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh kỳ 2014-2018, quyết định công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh ban hành. Tập trung tuyên truyền, phổ biến, thực hiện rà soát văn bản liên quan đến Bộ Luật Hình sự năm 2015.

Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác thi hành án dân sự và Chỉ thị số 09-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi hành án dân sự. Kết quả thi hành án dân sự có chuyển biến tích cực, toàn tỉnh đã thụ lý 8.860 vụ việc, tăng 2,1%, với số tiền 982 tỷ đồng, giảm 2,8%; đã giải quyết song 4.061 vụ việc, đạt tỷ lệ 67,9%, tăng 4,9%; tổng số tiền gần 105 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 20,3%, tăng 9,3%.

3. Công tác thanh tra, chống tham nhũng

Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được chỉ đạo quyết liệt. Tập trung triển khai thực hiện Thông báo số 282-TB/TU của Thường trực Tỉnh uỷ về đẩy mạnh nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác thanh tra trên địa bàn toàn tỉnh và các nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra. Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về kê khai, công khai minh bạch tài sản thu nhập theo quy định. Các ngành Thanh tra, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, UBKT Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Cục thuế, Kho bạc Nhà nước Bắc Giang và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký Quy chế phối hợp số 01/QCPHLN-TTr-BNC-UBKT-SNV-CT-KBNN-NHNN trong việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các quyết định, kết luận kiểm tra, giám sát, thanh tra.

Công tác thanh tra đã đạt được kết quả nhất định, đã triển khai 54 cuộc thanh tra hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội tại 136 đơn vị (tăng 04 cuộc); 81 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với 684 tổ chức, cá nhân (tăng 05 cuộc). Phát hiện sai phạm với tổng số tiền 18,2 tỷ đồng (tăng 5,7 tỷ đồng). Thu hồi về ngân sách nhà nước 5 tỷ đồng; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và xử lý bằng các biện pháp tài chính khác 13,2 tỷ đồng; xử lý hành chính đối với 6 tập thể, 65 cá nhân có sai phạm.

4. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC tiếp tục được chỉ đạo sát sao. Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC trên địa bàn; thành lập Tổ công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; tập trung xem xét, giải quyết các vụ việc KNTC đông người, phức tạp([49])...

Trong 6 tháng, toàn tỉnh đã tiếp 3.766 lượt người, tăng 24% đến đề nghị giải quyết 2.765 vụ việc, tăng 26,7%; tiếp nhận 3.209 đơn, giảm 5,7%; số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết là 1.380 đơn; đã xem xét giải quyết xong 1.168 đơn, đạt tỷ lệ 84,6%, tăng 1,3%. Qua giải quyết khiếu nại đã thu hồi về cho nhà nước 309 triệu đồng và 41m2 đất; trả lại cho công dân 261 triệu đồng và 2.230m2 đất; xử lý hành chính 07 cá nhân có sai phạm.

5. Công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Công tác quốc phòng của tỉnh đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, chủ động quản lý, nắm tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức Hội nghị tổng kết 24 năm thực hiện pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; tổng kết công tác Phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018,tổng kết 15 năm  pháp lệnh động viên công nghiệp... Các huyện, thành phố đã tổ chức tốt Lễ giao nhận quân năm 2018 đúng nghi lễ, nhanh, gọn, an toàn, đảm bảo chỉ tiêu.

Triển khai thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Bộ Luật Hình sự năm 2015, Chỉ thị số 11-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường bảo đảm trật tự trên địa bàn tỉnh.Mởcác đợt cao điểm tấn công trấn áp, truy nã tội phạm, tăng cường phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm hình sự, ma túy, tệ nạn xã hội, phòng chống trộm cắp, cháy nổ cho nhân dân... Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định, tội phạm về trật tự xã hội được kiềm chế, không xảy ra án đặc biệt nghiêm trọng([50]).

Công tác quản lý các hoạt động đối ngoại được tăng cường([51]). Chủ động mở rộng các quan hệ hợp tác, phát triển với các đối tác nước ngoài, các tổ chức quốc tế, tăng cường quảng bá hình ảnh, nét đẹp văn hóa của địa phương ra nước ngoài([52]). Đã phê duyệt tiếp nhận mới 02 dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài với tổng giá trị viện trợ trên 695 nghìn USD, tăng 137,2%, tiếp nhận 04 khoản viện trợ phi dự án với tổng giá trị đạt 640 triệu đồng, tăng 128,2% so với cùng kỳ.

6. Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ

Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông có nhiều cố gắng, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bản trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tác giao thông; ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác thống kê, báo cáo số liệu tai nạn giao thông, chỉ đạo triển khai 04 đợt cao điểm bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Tình trạng xe quá khổ quá tải đã có chuyển biến tích cực. Trong 6 tháng, các lực lượng chức năng đã kiểm tra, xử lý 35.440 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, tạm giữ 6.147 phương tiện các loại, tước 5.978 giấy phép lái xe, phạt thu nộp ngân sách 21 tỷ đồng. Trên địa bàn tỉnh xảy ra 244 vụ tai nạn giao thông, tăng 126 vụ, làm chết 117 người, tăng 64 người, bị thương 190 người, tăng 77 người so với cùng kỳ.

Công tác phòng cháy chữa cháy được tăng cường, chỉ đạo thành lập đoàn công tác liên ngành kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy đối với một số cơ sở trọng điểm có nhiều nguy cơ về cháy nổ trên địa bàn. Trong 6 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ cháy, giảm 14 vụ so với cùng kỳ, thiệt hại khoảng 13,5 tỷ đồng.

 


[1]03 tỉnh có GRDP tăng trưởng cao hơn là  Hà Tĩnh 32,0%,  Bắc Ninh 16,9%, Hải Phòng 16,3%.

[2]Ban hành Đề án quản lý, phát triển cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020;Quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”; “Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020”; thành lập 03 Cụm công nghiệp mới…

[3]Tăng trưởng GRDP ngành công nghiệp 6 tháng năm 2017 tăng 18,3%, năm 2016 tăng 15,3%, năm 2015 tăng 10,2%.

[4]Trong đó: Ngành khai khoáng bằng 124,2%, ngành chế biến chế tạo bằng 124,0%, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa bằng 131,3%, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải bằng 76,5%.

[5]Chỉ số IIP một số ngành sản xuất lớn như: ngành sản xuất sản phẩm điện tử bằng 136,2%, ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại bằng 119,9%; Ngành sản xuất hóa chất bằng 128,8%; Ngành sản xuất thiết bị điện bằng 134,0%...

[6]Theo ngành sản xuất: Công nghiệp khai thác đạt 285 tỷ đồng, tăng 25,7%; Công nghiệp chế biến đạt 52.810 tỷ đồng, tăng 25,5%; Công nghiệp sản xuất, phân phối điện đạt 675 tỷ đồng, tăng 41,9%; Công nghiệp khai thác, cung cấp nước đạt 65 tỷ đồng, tăng 2,5%.

[7]Một số doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn và tăng trưởng khá như: Công ty Fuhong đạt 14.500 tỷ đồng, tăng 25,1%, Công ty Hosiden Việt Nam đạt 4.355 tỷ đồng, tăng 43,3%, Công ty Si Flex đạt 3.300 tăng 107,3%, Công ty Vina Solar đạt 2.345 tỷ đồng, tăng 143,6%; Công ty Trina Solar đạt 1.280 tỷ đồng gấp 12 lần so với cùng kỳ...

[8]UBND tỉnh đã ban hành quy định về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020; Quy định nội dung chi và mức chi hỗ trợ cho hoạt động khuyến nông từ nguồn ngân sách địa phương; Quy chế phối hợp trong công tác phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật về đê điều trên địa bàn tỉnh...

[9]So với cùng kỳ, năng suất lúa ước đạt 60,5 tạ/ha, bằng 100%; sản lượng thóc ước đạt 306.160 tấn, bằng 98%; năng suất Ngô ước đạt 39,5tạ/ha, tăng 0,5%, sản lượng đạt 31.618 tấn, bằng 96%...

[10]Trong đó, diện tích lúa  cấy đạt 50.605 ha, bằng 97,6% so, Diện tích ngô đạt 7.995 ha, bằng 95,4%.

[11]Diện tích lúa chất lượng đạt 16.882 ha, chiếm 33,4% diện tích lúa, tăng 5,5%; diện tích rau chế biến, rau an toàn 5.850 ha, tăng 3%; diện tích vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP ước đạt 13.885 ha, tăng 7,6%  (chiếm 49% tổng diện tích cây vải); Diện tích cây cam đạt 4.502 ha, tăng 46%...

[12]Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 165 mô hình cánh đồng mẫu lớn, tăng 47 mô hình; 41 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tăng 20 mô hình.

[13]Đến nay trên địa bàn tỉnh có 39 HTX hoạt động về lĩnh vực chăn nuôi lợn và gia cầm; có 38 cơ sở liên kết nuôi gia công cho các Công ty như: CP DABACO, JAFA, RTD; hình thành một số chuỗi chăn nuôi lợn sạch, lợn an toàn tại Tân Yên, Hiệp Hòa,...

[14]Xảy ra 10 vụ vi phạm về chặt phá rừng tự nhiên trái phép, giảm 85 vụ; diện tích bị phát 7,95 ha, giảm 39,5 ha; xảy ra 06 vụ cháy rừng, giảm 8 vụ, làm thiệt hại 4,32 ha, giảm 14,62 ha.

[15]Tính đến ngày 10/6/2018, lực lượng chức năng đã tổ chức kiểm tra 920 vụ, thực hiện xử lý 826 vụ vi phạm. Tổng số tiền xử phạt VPHC, tiền bán hàng tịch thu và trị giá hàng hóa tiêu hủy gần 7 tỷ đồng (Số tiền đã nộp Kho bạc Nhà nước 6,4 tỷ đồng).

[16] Thùng xốp, đá cây, vận tải, ngân hàng và dịch vụ khác...

[17]Ban hành kế hoạch tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư du lịch tỉnh Bắc Giang năm 2018, Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ về Chương trình hành động phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

[18]Một số khoan thu tăng cao như: Thu tiền SDĐ đạt 2.850 tỷ đồng, đạt 149,6% dự toán, tăng 156,5%; tiền thuê đất 80 tỷ đồng, đạt 122,0% dự toán, tăng 66,1%...

[19]Thu từ doanh nghiệp FDI đạt 304 tỷ đồng, đạt 46,9%, tăng 19,5%; Thu từ DNNN Trung ương 192 tỷ đồng, đạt 45,9%, tăng 19,0%; Thu từ DNNN Địa phương43 tỷ đồng, đạt 41,1%, tăng 15,2%, phí lệ phí 55 tỷ đồng, đạt 40,7% dự toán, bằng 89,4%... 

[20]Thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp đối với 5.577 lượt doanh nghiệp; ban hành 270 quyết định cưỡng chế; làm việc với 63 doanh nghiệp có số thuế nợ lớn kéo dài... Thu nợ tính đến 30/6/2018 được 120 tỷ đồng tiền nợ đọng thuế có khả năng thu năm 2017 chuyển sang, đạt 50,6%.

[21]DNNN Trung ương nợ 42,4 tỷ đồng, DNNN địa phương 150,4 tỷ đồng, doanh nghiệp FDI nợ 32,8 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài quốc doanh 284,3 tỷ đồng và hộ kinh doanh cá thể 22,4 tỷ đồng.

[22]Trong đó: vốn đầu tư do tỉnh quản lý là 5.431 tỷ đồng, vốn đầu tư của bộ, ngành Trung ương quản lý là 131 tỷ đồng

[23]Đã chỉ đạo xây dựng Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, nghị quyết về đẩy mạnh phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh, Đề án chuyển đổi, di dời theo quy hoạch đô thị đối với một số diện tích đất do các tổ chức kinh tế đang sử dụng trên địa bàn thành phố Bắc Giang…

[24]gồm: 01 đô thị loại II là TP. Bắc Giang; 02 đô thị loại IV là TT. Chũ và TT. Thắng; còn lại là 14 đô thị loại V.

[25]Hiệp Hòa cứng hóa được 22 km, đạt 19,1%; Lạng Giang 8,2 km, đạt 8,2%; Lục Nam 15,5 km, đạt 15,4%; Lục Ngạn 31,6 km, đạt 14,2%; Tân Yên 49 km, đạt 27,2%; Việt Yên 8,4 km, đạt 22,7%; Yên Dũng 5,5 km, đạt 10,8%; Yên Thế và Sơn Động chưa có khối lượng thực hiện.

[26]Tính riêng trong 5 tháng, số dự án FDI cấp mới của tỉnh đứng thứ 6 cả nước, vốn đăng ký mới, bổ sung và góp vốn của các doanh nghiệp FDI đứng thứ 13 cả nước.

[27]Tổng số HTX đang hoạt động đến 15/5 là 629 HTX, trong đó: lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản là 404 HTX; lĩnh vực phi nông nghiệp là 205 HTX; Quỹ tín dụng nhân dân là 20 Quỹ..

[28]Tổ chức công khai quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối tỉnh Bắc Giang; ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai; quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh...

[29]Dự án KCN Vân Trung đã bồi thường GPMB được 130,86 ha/132,06 ha, đạt 99,1%; KCN Song Khê - Nội Hoàng 49,7/49,7ha, đạt 100%; Dự án hạ tầng, kho bãi Logistics quốc tế thành phố Bắc Giang 67,13/67,87 ha, đạt 98,9%, Nhà máy nhiệt điện An Khánh 43,86/44,82 ha, đạt 97,9%; Dự án Khu đô thị Phía Nam thành phố Bắc Giang khu số 6, số 7 được 19,8/45,7 ha, đạt 43,3%; dự án xây dựng cầu Đồng Sơn và đường dẫn lên cầu 43,37ha/43.87 ha, bằng 98,9%; dự án tuyến cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn 21,4/22ha, đạt 97,3%; Dự án Khu văn hóa Tâm linh Tây Yên Tử 48/87,59 ha, đạt 54,8%.

[30]Trong 6 tháng, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành 06 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với 11 tổ chức và 02 cá nhân với tổng số tiền xử phạt là 1,7 tỷ đồng, sở TNMT quyết định xử phạt 7 tổ chức với số tiền 435 triệu đồng.

[31]Ngân sách tỉnh hỗ trợ 31,3 tỷ đồng xây mới phòng học mầm non, 1,3 tỷ đồng hỗ trợ mua sắm đồ dùng, thiết bị dạy học cho nhóm trẻ trong trường tư thục và nhím trẻ độc lập tư thục. Đã phối hợp với tổ chức KFHI Hàn QUốc bàn giao đưa vào sử dụng nhà vệ sinh và hệ thống lọc nước tạo trường Tiểu học Lê Hồng Phong, TP Bắc Giang.

[32]Hiện tỷ lệ giáo viên/lớp ở mầmnon đạt 1,74 GV/lớp (tăng 0,3) tiểu học đạt 1,44 GV/lớp (tăng 0,01); THCS 2,06 GV/lớp (tăng 0,04), THPT 2,25 (bằng 100%).

[33]Thi HSG văn hóa cấp quốc gia đạt 57 giải,trong đó có 02 giải nhất, 11 giải nhì, 16 giải ba, 28 giải khuyến khích. Đặcbiệt có 01 học sinh giành huy chương vàng trong kỳ thi Olympic Vật lý Châu Á - Thái Bình Dương.

[34]Đã hoàn thành đưa vào sử dụng Khối nhà khối điều trị nội trú, Bệnh viện đa khoa tỉnh; cơ bản hoàn thành Bệnh viện nội tiết 100 giường; đang hoàn chỉnh thủ tục chuẩn bị đầu tư dự án Khối nhà trung tâm, các khoa còn lại của Bệnh viện đa khoa tỉnh.

[35]Đến nay cơ bản các bệnh viện công lập trên địa bàn đã triển khai thực hiện cơ chế tự chủ về mặt tài chính (chi thường xuyên).

[36]Trong 6 tháng ngành y tế đã cử 36 cá nhân tham gia đào tạo kỹ thuật mới;  cử đi đào tạo sau đại học 02 trường hợp;  6 trường hợp đi học trình độ đại học, 122 đào tạo trình độ cao đẳng.

[37]Thanh tra 02 bệnh viện và 05 Phòng khám Đa khoa, nhắcnhở và khắc phục tồn tại 07 cơ sở, đình chỉ một phần hoạt động chuyên môn kỹ thuật 21 cơ sở và thu hồi, hủy  09 chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.

[38]Đã tổ chức thành công Chương trình nghệ thuật đặc biệt gắn với bắn pháo hoa tại Quảng trường 3/2 thành phố Bắc Giang cháo đón năm mới Mậu Tuất 2018 Liên hoan hát Quan họ tỉnh Bắc Giang lần thứ V...

[39]Đã tổ chức thành công 08 giải thể thao cấp tỉnh; đã tham gia thi đấu 19 giải thể thao trong nước và quốc tế, giành 100 huy chương các loại (26 HCV, 29 HCB, 45 HCĐ), trong đó VĐV Nguyễn Thị Oanh xuất sắc giành 02 HCĐ tại giải Vô địch điền kinh Châu Á trong nhà, 36 lượt vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia.

[40]Theo báo cáo ICT Index năm 2017, Bắc Giang xếp hạng thứ 21/63 tỉnh, thành phố, trong đó mức độ ứng dụng CNTT xếp thứ 14/63 tỉnh thành trong cả nước

[41]Trong dịp Tết Nguyên đánMậu Tuất năm 2018, toàn tỉnh đã thăm, tặng 158.276  xuất quà với tổng kinh phí gần 50 tỷ đồng.Đến hết tháng 6/2018, toàn tỉnh thực hiện trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng cho 58.492 đối tượng..

[42]Tính đến 31/12/2017, toàn tỉnh có 42.734 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,53% và 35.730 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 7,96%.

[43]6 tháng đã xảy ra 10vụ đình công, ngừng việc tập thể với sự tham gia của khoảng 11.000 người lao động, giảm 02 vụ.

[44]Đã phân bổ 8 tỷ đồng kế hoạch vốn Chương trình MTQG đào tạo nghề cho 3.090 lao động nông thôn.

[45]Chỉ số PAPInăm 2017 đạt 33,17 điểm, đứng thứ 26/63 tỉnh, thành phố, giảm 15 bậc so với măm 2016; Chỉ số cải cách hành chính Parindex năm 2017 đạt 82,74 điểm, tăng 2,43 điểm, đứng thứ 13/63 tỉnh thành, giữ nguyên thứ bậc so với năm 2016.

[46]Đến nay, có 20 sở, cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh, số lượng phòng, chi cục thuộc một số sở, ngành giảm so với trước như: Sở Tài nguyên và Môi trường (giảm 01 phòng), Sở Tài chính (giảm 01 phòng), Sở Ngoại vụ (giảm 01 phòng). ..

[47]Kết quả đến nay đãrà soát 258 đơn vị, giảm 20 đơn vị sự nghiệp, sáp nhập Trường Cao đẳng Nghề vào trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn; sáp nhập 28 trường tiểu học và THCS thành 14 trường Tiểu học và THCS

[48]Đến nay, toàn tỉnh có 2.121 cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên, trong đó trình độ đại học trở lên chiếm 2.047 người (96,5%); Cán bộ, công chức cấp xã: 4.970 người trong đó, cán bộ cấp xã: 2.305 người; công chức cấp xã: 2.665 người; số cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn là 4.900/4.970 (đạt 98,6%).

[49]Tổng số quyết định, kết luận giải quyết KNTC phải tổ chức thực hiện là122; đã thực hiện xong 91 quyết định, kết luận, đạt tỷ lệ 74,5%, giảm 6% so với cùng kỳ; có 21 vụ việc KNTC đông người, phức tạp, đã giải quyết 15/21 vụ việc.

[50]Toàn tỉnh xảy ra 308vụphạm tội về trật tự xã hội, tăng 9 vụ, làm chết 13người, tăng 5, bị thương 89người, tăng 25 người, thiệt hại tài sản trị giá 6,8tỷ đồng, tăng 400 triệu đồng so với cùng kỳ 2017.

[51]Quán triệt, triển khai thực hiện Quy chế số 07-QC/TU ngày 01/02/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại của tỉnh Bắc Giang; Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định quản lý và trình tự, thủ tục xuất cảnh đối với cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

[52]Đã tiếp một số đoàn ngoại giao đến từ một số nước như: Đại sứ Trung Quốc, Đại sứ Nhật Bản, Đại sứ Ấn Độ, Tùy viên Đại sứ quán Hàn Quốc và Tổng Giám đốc Công ty Samsung Việt Nam, đoàn cán bộ hành chính thành phố Icheon, Hàn Quốc...