DIỄN ĐÀN

 

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 27098332
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 3101
  • Trong tuần: 17014
  • Trong tháng: 566043
  • Trong năm: 19098332
Trang chủ

Báo cáo tình hình thực hiện vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010; ( 13:27 | 20/09/2012 )

Bản để inGửi bài này qua Email

Thực hiện nội dung Công văn số 2772/BKH-TH, ngày 28/4/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại Công văn số 869/UBND-XD ngày 05/5/2010 về việc đánh giá tình hình thực hiện vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010 của tỉnh Bắc Giang. Sở Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố và các chủ đầu tư, tổng hợp tình hình thực hiện vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010

 

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VỐN TPCP GIAI ĐOẠN 2003-2010                      
1. Tình hình phân bổ vốn Trái phiếu Chính phủ

Kế hoạch vốn giai đoạn 2003-2010 Trung ương giao cho tỉnh là 1.162,826 tỷ đồng, phân bổ cho 28 dự án và thực hiện chương trình KCH trường lớp học, nhà công vụ cho giáo viên. Trong đó: lĩnh vực giao thông là 364,3 tỷ đồng; thuỷ lợi là 272,5 tỷ đồng; y tế 208 tỷ đồng; nhà ở sinh viên 70 tỷ đồng, chương trình KCH trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên 248,026 tỷ đồng. (Chi tiết biểu số 1
2. Tình hình thực hiện và giải ngân nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ
Giá trị khối lượng thực hiện từ 2003 ước đến hết năm 2010 đạt 1.990,5 tỷ đồng, bằng 145,3% tổng vốn đã bố trí, trong đó giá trị khối lượng thực hiện nguồn vốn TPCP đạt 1.996,9 tỷ đồng, bằng 146% kế hoạch vốn TPCP đã bố trí.
Giá trị giải ngân thanh toán từ năm 2003 ước đến hết năm 2010 đạt 1.248,2 tỷ đồng, bằng 91% tổng vốn đã bố trí, trong đó giá trị giải ngân nguồn vốn TPCP đạt 1.041,8 tỷ đồng, bằng 89,6% kế hoạch vốn TPCP đã bố trí. (Chi tiết Biểu số 1)
 3. Số lượng các công trình, dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư
Giai đoạn 2003-2010, có 28 dự án được đầu tư từ nguồn vốn TPCP và thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ giáo viên, đến nay có 15/28 dự án phải điều chỉnh, bổ sung phê duyệt lại dự án, với tổng mức đầu tư từ 4.875,5 tỷ đồng tăng lên 5.172,6 tỷ đồng (tăng 297,045 tỷ đồng) so với tổng mức đầu tư được duyệt ban đầu. Trong đó: Các dự án giao thông có tổng mức đầu tư tăng so với ban đầu là 110,303 tỷ đồng; các dự án thuỷ lợi và an toàn hồ chứa tăng 179,087 tỷ đồng; Các dự án y tế (chỉ tính các dự án đang triển khai thực hiện) tăng 76,262 tỷ đồng([1])(Chi tiết theo cột số 6 đến cột số 11 của Biểu số 1)
 4. Số lượng và danh mục các công trình, dự án sử dụng vốn TPCP hoàn thành đến năm 2009 và dự kiến hoàn thành trong năm 2010
Đến hết năm 2009 đã cơ bản hoàn thành 2 dự án đường giao thông: Đường vào Trung tâm xã Xa Lý huyện Lục Ngạn, Đường vào Trung tâm xã Thạch Sơn huyện Sơn Động; hoàn thành phần xây lắp các hạng mục chính của Dự án bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Lục Ngạn; 5 bệnh viện đa khoa tuyến huyện (Lục Nam, Yên Dũng, Hiệp Hoà, Việt Yên, Lạng Giang) và hoàn thành đưa vào sử dụng 1.809 phòng học tạm, cấp 4 xuống cấp; 1.011 phòng công vụ giáo viên. (Chi tiết theo biểu số 2)
Hiện nay, các dự án được tích cực triển khai thực hiện và đạt kết quả khá. Năm 2010, dự kiến hoàn thành 13 dự án: Đường giao thông đến TT xã Tân Lập- Đèo Gia- Tân Mộc huyện Lục Ngạn; Dự án nâng cấp Tỉnh lộ 398 (Km30-50 đoạn Quế Nham - Cầu Gồ); Dự án Cụm công trình thuỷ lợi Hàm Rồng huyện Lục Ngạn (gồm 4 hồ chứa: Hàm Rồng, Khe Sàng, Duồng và Khuôn Vố); Dự án Cải tạo, nâng cấp cụm công trình hồ chứa huyện Lục Ngạn (gồm 6 hồ: Khuôn Thần, Đá Mài, Đồng Cốc, Trại Muối, Dộc Bấu, Lòng Thuyền); hoàn thành về xây lắp các hạng mục phụ trợ và trang thiết bị y tế của Dự án Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Lục Ngạn và 5 Bệnh viện đa khoa tuyến huyện (Lục Nam, Yên Dũng, Hiệp Hoà, Việt Yên, Lạng Giang); Phòng khám Đa khoa KV Mai Sưu, huyện Lục Nam; Dự án nhà ở sinh viên thành phố Bắc Giang giai đoạn I và tiếp tục hoàn thành đưa vào sử dụng 453 phòng học tạm, cấp 4 đã xuống cấp 191 phòng công vụ giáo viên. (Chi tiết theo biểu số 3)
5. Tình hình huy động các nguồn vốn đầu tư khác bổ sung cho việc xây dựng các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ
Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, ngoài nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ được Trung ương hỗ trợ, tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác BTGPMB, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công; đồng thời tích cực huy động các nguồn vốn khác để thực hiện dự án. Đến nay, tổng nguồn vốn huy động khác bổ sung cho việc xây dựng các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ đạt 206,668 tỷ đồng, chiếm 15,1% tổng số vốn đã bố trí cả giai đoạn 2003-2010.
6. Năng lực tăng thêm và hiệu quả đầu tư từ việc triển khai thực hiện các công trình, dự án sử dụng vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010.
Trong những năm qua, nguồn vốn TPCP đầu tư đã góp phần làm tăng cường thêm cơ sở vật chất về hạ tầng về kinh tế - xã hội, góp phần tăng năng lực sản xuất đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết được các vấn đề xã hội quan trọng (giáo dục, y tế) của tỉnh cụ thể là:
6.1.Về lĩnh vực thuỷ lợi: Cơ bản hoàn thành các công trình đầu mối Cụm công trình hồ Hàm Rồng (tưới 1.122 ha), tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công Cụm công trình hồ chứa huyện Lục Ngạn (tưới 2.647ha), Hệ thống thuỷ lợi hồ Sông Sỏi (tưới 2.806 ha),... đã tăng thêm năng lực tưới cho khoảng 5.000 ha diện tích gieo trồng, góp phần tăng vụ, mở rộng cơ cấu cây trồng, tạo nguồn nước sinh hoạt, cải tạo môi trường sinh thái; đồng thời nâng cao khả năng chống lũ, đảm bảo an toàn cho các hồ chứa trong mùa mưa lũ.
6.2.Lĩnh vực giao thông: Đã tập trung đầu tư cơ bản hoàn thành 2 dự án đường ô tô vào trung tâm xã của các huyện miền núi (Đường vào Trung tâm xã Xa Lý huyện Lục Ngạn, Đường vào trung tâm xã Thạch Sơn huyện Sơn Động), góp phần đảm bảo 100%  số xã có đường ô tô vào được trung tâm trong mùa mưa lũ; các tuyến đường liên xã tiếp tục được cải tạo, nâng cấp; thi công hoàn thành khoảng 90 km/150,08 km đường trong các các dự án đang triển khai thực hiện, trong đó có tuyến đường quan trọng là Dự án Đường nối từ Đường tỉnh 398 (Yên Dũng) đi QLộ 18 (Quế Võ- Bắc Ninh), góp phần phục vụ nhu cầu đi lại và giao lưu phát triển kinh tế của nhân dân trong tỉnh.
6.3.Lĩnh vực y tế: Tập trung vốn đầu tư thi công cơ bản hoàn thành xây lắp và mua sắm trang thiết bị giai đoạn 1 của Bệnh viện Đa khoa khu vực Lục Ngạn và 5 bệnh viện đa khoa huyện Lục Nam, Hiệp Hoà, Yên Dũng, Lạng Giang, Việt Yên; đưa vào sử dụng 39.706 m2 sàn; 193 chủng loại thiết bị y tế cho tuyến huyện, 32 chủng loại thiết bị cho tuyến tỉnh; đồng thời tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công 3 bệnh biện đa khoa huyện: Yên Thế, Tân Yên, Sơn Động, Phòng khám đa khoa khu vực Mai Sưu  với quy mô diện tích là 24.218 m2; khởi công xây dựng 2 bệnh viện tuyến tỉnh. Qua đầu tư đã góp phần nâng cao điều kiện cơ sở vật chất khám chữa bệnh cho nhân dân, nâng số gường bệnh/vạn dân từ 21,3 giường năm 2003 lên 23,4 gường bệnh/vạn dân năm 2009 và dự kiến năm 2010 đạt 23,5 giường bệnh/vạn dân.
6.4. Về thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên: Cùng với các nguồn vốn đầu tư khác và nguồn vốn TPCP giai đoạn 2003-2009 đã hoàn thành đưa vào sử dụng 1.809 phòng học tạm, cấp 4 đã xuống cấp và 1.011 phòng công vụ giáo viên; dự kiến hết năm 2010 tiếp tục hoàn thành đưa vào sử dụng 453 phòng học tạm, cấp 4 đã xuống cấp và 191 phòng công vụ giáo viên. Góp phần đưa tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học năm 2009 của tỉnh đạt 80%, tăng 30,8% so với năm 2003; dự kiến năm 2010 là 90%.
7. Tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai kế hoạch vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010
7.1. Một số tồn tại, hạn chế:
- Công tác phân công nhiệm vụ làm đầu mối tham mưu tổng hợp phân bổ và theo dõi kế hoạch vốn TPCP ở một số huyện chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban chuyên môn; năng lực cán bộ còn hạn chế, do đó việc triển khai kế hoạch chất lượng chưa cao.
- Tiến độ thực hiện một số dự án còn chậm so với yêu cầu đặt ra, quá trình thi công gặp nhiều vướng mắc phát sinh, một số gói thầu phải gia hạn thời gian thi công.
- Công tác bồi thường GPMB vẫn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 112/2009/QĐ-UBND 28/10/2009 về việc ban hành quy định một số điểm cụ thể về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Nghị định 69/2009/NĐ-CP([2]), nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB, khởi công các dự án , tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số dự án vẫn gặp vướng mắc, tiến độ thực hiện công tác bồi thường GPMB chậm. Nhiều dự án phải bổ sung vốn bồi thường GPMB, gây rất nhiều khó khăn cho công tác cân đối, bố trí vốn đối ứng.
- Hồ sơ dự án, thiết kế, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn lập còn nhiều thiếu sót, phải chỉnh sửa mất nhiều thời gian, làm ảnh hưởng đến tiến độ của dự án.
- Mặc dù đã có sự chỉ đạo đôn đốc quyết liệt trong việc triển khai các công trình đầu tư sử dụng nguồn vốn TPCP, song hàng năm việc giải ngân vẫn dồn về cuối năm (Thực hiện kế hoạch năm 2009: sang tháng 1/2010 đã giải ngân 319 tỷ đồng của kế hoạch năm 2009, chiếm 14% kế hoạch; vốn giải ngân thanh toán trong năm đạt thấp và phải chuyển nguồn sang năm sau (Năm 2009, đến hết 31/01/2010, vốn Trái phiếu Chính phủ còn 45,3 tỷ đồng chưa giải ngân, tập trung vào một số dự án: Đường Đèo Gia - Tân Mộc 12,6 tỷ đồng, đường vào trung tâm xã Thạch Sơn 4,4 tỷ đồng, đường vào trung tâm xã Xa Lý 2,8 tỷ đồng; đường An Lập - Vĩnh Khương - Vân Sơn 1,7 tỷ đồng, Dự án công trình thủy lợi (hồ Suối Cấy, Ngạc Hai, Cầy Cài, Cầu Cháy) huyện Yên Thế 8,9 tỷ đồng; Bệnh viện đa khoa tỉnh 800 giường 10 tỷ đồng, Bệnh viện Nhi 3 tỷ đồng...).
7.2. Nguyên nhân:
* Nguyên nhân khách quan: Trong giai đoạn 2003-2010, nhiều chính sách mới về đầu tư và xây dựng được ban hành, gây lúng túng cho một số chủ đầu tư khi triển khai thực hiện dự án.
Công tác bồi thường GPMB gặp nhiều khó khăn do nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, đòi hỏi đơn giá bồi thường cao hơn quy định, hoặc không chấp nhận phương án bồi thường.
Một số dự án vốn đầu tư còn chưa đáp ứng được tiến độ thi công như: Vốn thực hiện dự án Đường lối TL 398 với QL 18; dự án cải tạo, nâng cấo Đt 398 (Km30-50 đoạn Quế Nham - Cầu Gồ; Cụm công trình thuỷ lợi Hàm Rồng; Cải tạo, nâng cấp cụm công trình hồ chứa huyện Lục Ngạn; 6 dự án bệnh viện ĐK tuyến huyện (Lục Ngạn, Lục Nam, Việt Yên, Lạng Giang, Yên Dũng, Hiệp Hoà, vốn thực hiện cho Chương trình KCH Trường lớp học và nhà công vụ giáo viên…
* Nguyên nhân chủ quan: Trong quá trình thực hiện công tác bồi thường GPMB, sự phối hợp giữa các sở, ngành, các chủ đầu tư với các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể ở một số địa phương chưa chặt chẽ.
Một số đơn vị được giao làm chủ đầu tư chưa làm hết trách nhiệm, thiếu kinh nghiệm xử lý các phát sinh trong quá trình thi công, chưa chủ động đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, còn tư tưởng ỷ lại.
II. NHU CẦU ĐẦU TƯ NGUỒN VỐN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ ĐỂ HOÀN THÀNH CÁC CÔNG TRÌNH, DỰ ÁN NGUỒN VỐN TPCP GIAI ĐOẠN 2003-2010
Năm 2010, nhiều dự án được đầu tư từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ của tỉnh Bắc Giang cần sớm hoàn thành để đưa vào khai thác sử dụng, phát huy hiệu quả, tuy nhiên hiện trong kế hoạch vốn đã phân bổ chưa đáp ứng nhu cầu về tiến độ thi công, đề nghị Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ ngành Trung ương xem xét cho tỉnh tạm ứng kế hoạch năm 2011 Vốn Trái phiếu Chính phủ là 1.275 tỷ đồng, trong đó tạm ứng trước 358,3 tỷ đồng để thực hiện các dự án hoàn thành trong năm 2010. (Chi tiết theo Biểu số 7)
III. CÁC KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Trong những năm qua, nguồn vốn TPCP đã đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu, trọng tâm là đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ lợi, y tế và thực hiện chương trình kiên cố hoá nhà lớp học và nhà công vụ giáo viên… tạo động lực phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, đến nay tỉnh Bắc Giang vẫn là tỉnh nghèo, thu ngân sách trên địa bàn mới đáp ứng được 25% nhu cầu chi; hơn nữa năm 2008, do ảnh hưởng của 2 trận mưa lũ lịch sử, nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi bị hư hại năng nề đến nay chưa khắc phục được, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhiều tuyến đường huyện, đường liên xã xuống cấp nên rất khó khăn cho việc giao lưu hàng hoá, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; cơ sở vật chất trường, lớp học và trang thiết bị y tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập và khám chữa bệnh của nhân dân. Vì vậy, tỉnh Bắc Giang đề nghị Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quan tâm tạo điều kiện giúp Bắc Giang một số lĩnh vực sau: 
1. Về lĩnh vực giao thông: Đề nghị tiếp tục bố trí vốn TPCP thực hiện các dự án chuyển tiếp; đồng thời bổ sung danh mục các dự án mới trong giai đoạn 2011-2015, trong đó tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 (tổng chiều dài 50km), là tuyến đường quan trọng đi qua 2 huyện miền núi Lục Nam và huyện nghèo (30a) Sơn Động kết nối với tỉnh Quảng Ninh. Đây là vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, là khu vực chậm phát triển trong tỉnh, nhưng cũng là vùng đất có tiềm năng lớn về du lịch vì chạy dọc phía Tây Yên tử, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh cũng như thắng cảnh thiên nhiên đẹp. Tuyến đường đầu tư, nâng cấp sẽ tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, mở ra triển vọng lớn về khai thác có hiệu quả khu du lịch văn hoá- sinh thái Tây Yên Tử, tạo tiền đề để giúp đồng bào dân tộc các huyện miền núi thoát nghèo bền vững. (Chi tiết theo Biểu số 8 kèm theo)
2. Về lĩnh vực thuỷ lợi: Đề nghị tiếp tục bố trí vốn TPCP thực hiện các dự án chuyển tiếp; đồng thời bổ sung danh mục các dự án mới trong giai đoạn 2011-2015, trong đó tập trung đầu tư Hệ thống thuỷ lợi Sông Cầu là công trình thủy nông lớn được xây dựng trước năm 1960, phục vụ tưới cho 28.000 ha, tiêu 58.600 ha của 4 huyện: Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) và Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên), là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Mấy năm gần đây thời tiết diễn biến rất phức tạp trong khi đó công trình ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, chỉ hoạt động được khoảng 50% công suất thiết kế. Hàng năm có 13.000 ha thường xuyên không có nước tưới và 12.000 ha lúa, mầu thường xuyên bị ngập úng, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu nhập và đời sống nông dân. UBND tỉnh cũng đã lập dự án và trình với một số Bộ, ngành TW nhưng đến nay chưa được bố trí vốn để đầu tư. Trước thực trạng khó khăn trên, đề nghị Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quan tâm bố trí vốn Trái phiếu Chính phủ tập trung giai đoạn 2011-2015 để đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống kênh tưới, tiêu cấp I thuộc hệ thống thuỷ lợi nông Sông Cầu. Dự án được thực hiện sớm sẽ có tác dụng lớn khai thác tiềm năng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân 4 huyện trên. (Chi tiết theo Biểu số 9 kèm theo)
3. Về lĩnh vực y tế: Để thực hiện Thông báo kết luận số 137/TB-VPCP ngày 24/4/2009 của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp giao ban trực tuyến với các Bộ, ngành, địa phương về đầu tư xây dựng ngành giao thông; Thông báo số 163/TB-VPCP ngày 22/5/2009 của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại bổi làm việc với UBND tỉnh Bắc Giang trong đó có đề nghị Phó Thủ tướng hỗ trợ đầu tư xây dựng Bệnh viện đa khoa 800 giường: Dự án đã được phê duyệt với tổng mức đầu tư 1.198 tỷ đồng, đến nay kế hoạch vốn mới được bố trí 20 tỷ đồng. Để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng, đề nghị Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính xem xét ứng trước kế hoạch năm 2011 cho dự án 100 tỷ đồng (Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã có Công văn số 688/UBND ngày 08/4/2010 gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính và Bộ Y tế). Đồng thời tiếp tục tạo điều kiện bố trí vốn thực hiện các bệnh viện tuyến tỉnh mới được bổ sung là: Bệnh viện Sản - Nhi, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Tâm thần, để triển khai thực hiện mục tiêu Nghị quyết của Quốc hội nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân trong tỉnh và khu vực lân cận, góp phần giảm tải cho tuyến Trung ương.
Mặt khác, nguồn vốn đầu tư thực hiện các dự án bệnh viện đa khoa tuyến huyện theo Quyết định 47/QĐ-TTg rất hạn chế, 6 bệnh viện đa khoa tuyến huyện cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chủ yếu là phần xây lắp, trang thiết bị còn thiếu, rất khó khăn cho việc chuẩn đoán và điều trị bệnh. Tổng vốn thực hiện đề án nâng cấp Bệnh viện huyện, Bệnh viện đa khoa khu vực, Phòng khám khu vực tỉnh Bắc Giang đến nay là 208 tỷ đồng, đạt 32,9% kế hoạch theo Đề án do UBND tỉnh phê duyệt. Trong đó, nguồn vốn TPCP trong 3 năm (năm 2008, 2009, 2010) là 153 tỷ đồng, đạt 47,5% theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 về việc phân bổ vốn thực hiện đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện sử dụng vốn Trái phiếu chính phủ giai đoạn 2008-2010 của tỉnh. 
3. Về thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ giáo viên: Đề nghị, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục quan tâm hỗ trợ nguồn vốn TPCP cho tỉnh thực hiện KCH trường lớp học và nhà công vụ giáo viên; đồng thời nâng tỷ lệ hỗ trợ các phòng tạm, cấp 4 xuống cấp, nhà công vụ, đặc biệt nâng tỷ lệ hỗ trợ phòng chức năng (hiện nay mức hỗ trợ là 20%) và nâng định mức giá của một phòng xây mới cho phù hợp vơi tình hình thực tế về chi phí xây dựng hiện nay.
4. Về Dự án Khu nhà ở sinh viên thành phố Bắc Giang: Đây là Dự án lớn, nhưng đến nay kế hoạch vốn giao còn hạn chế và theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ chỉ đầu tư cho công tác xây lắp. Như vậy, tỉnh Bắc Giang khó có thể hoàn thành được dự án theo kế hoạch. Để dự án được hoàn thành đúng tiến độ trong năm 2010, UBND tỉnh đề nghị Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và các bộ, ngành Trung ương tiếp tục tạo điều kiện giúp tỉnh giải quyết nhu cầu về nhà ở cho khoảng 3.500 học sinh, sinh viên đề nghị bổ sung vốn Trái phiếu Chính phủ năm 2010 cho tỉnh là 95 tỷ đồng và đồng ý cho tỉnh được thực hiện chi từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ cho tất cả các hạng mục chi phí thuộc Dự án (Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã có Báo cáo số 32/UBND ngày 29/4/2010 gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ XD, Bộ GD&ĐT).
Trên đây, là tổng hợp tình hình thực hiện vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010 của tỉnh và các kiến nghị đề xuất cho những năm tiếp theo, Sở Kế hoạch và Đầu tư trân trọng báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đề nghị các bộ, ngành trung ương, tiếp tục quan tâm hỗ trợ, tăng mức bố trí kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hỗ trợ khác trong năm 2010 và những năm tiếp theo cho tỉnh, để Bắc Giang có điều kiện hoàn thành các dự án đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần để hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và trong giai đoạn mới 2011-2015 của tỉnh. 

Phòng Tổng hợp- Quy hoạch  Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Giang