DIỄN ĐÀN

 

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 27380894
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 1312
  • Trong tuần: 6144
  • Trong tháng: 848605
  • Trong năm: 19380894
Trang chủ

Căn cứ pháp lý để xác định lĩnh vực cấm đầu tư và ngành, nghề cấm kinh doanh? ( 09:05 | 21/09/2012 )

Bản để inGửi bài này qua Email

 

Theo pháp luật hiện hành, căn cứ pháp lý để xác định lĩnh vực cấm đầu tư và ngành, nghề cấm kinh doanh theo quy định sau:
 
1. Tại khoản 3 Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định cấm hoạt động kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân, làm huỷ hoại tài nguyên, phá huỷ môi trường. Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề kinh doanh bị cấm.
Hiện nay, việc xác định ngành, nghề cụ thể cấm kinh doanh để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh áp dụng theo quy định tại:
(i) Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;
(ii) Danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh quy định tại Điều 4 Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.
2. Tại Điều 30 của Luật Đầu tư quy định cấm các dự án đầu tư vào 4 lĩnh vực bị cấm hoạt động kinh doanh theo Điều 7 Luật Doanh nghiệp nêu tại khoản a trên đây, các dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hoá chất độc hại hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế.
Hiện nay, việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư xác định ngành, nghề cấm đầu tư căn cứ theo Danh mục 12 ngành, nghề thuộc 4 lĩnh vực cấm đầu tư tại Phụ lục D ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
 
Câu hỏi: Quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường trú tại Việt Nam? Như vậy nghĩa là người đại diện của doanh nghiệp là người nước ngoài phải làm thủ tục cấp thể thường trú tại Việt Nam ? Có thực hiện được việc này không vì điều kiện được cấp thẻ thường trú là rất khó thực hiện
Theo quy định tại Điều 22 của Luật Doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần phải được quy định tại Điều lệ doanh nghiệp.

Các Điều 46, 67 và 95 của Luật Doanh nghiệp quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty (đối với trường hợp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và được quy định tại Điều lệ doanh nghiệp; đồng thời quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường trú tại Việt nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Việc quy định người đại diện của doanh nghiệp là người nước ngoài (bao gồm cả kiều bào) phải thường trú tại Việt Nam đồng nghĩa với việc phải có thẻ thường trú tại Việt Nam ; trong khi đó, các quy định hiện hành theo pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam về điều kiện cấp thẻ thường trú chưa có quy định điều chỉnh riêng đối với người nước ngoài (bao gồm cả kiều bào) vào Việt Nam thực hiện dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp chứng nhận đầu tư.
Hiện nay trường hợp người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn theo thủ tục cấp Thẻ tạm trú ký hiệu B2 cấp cho người nước ngoài làm việc tại dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng nhận đầu tư phù hợp với mục đích, thời hạn và địa chỉ đăng ký theo quy định tại Nghị định 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và hướng dẫn thực hiện tại Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 ; và trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày, nhà đầu tư phải thực hiện quy định về việc ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình phù hợp quy định hiện hành của pháp luật về doanh nghiệp./.

 

Các tin khác