DIỄN ĐÀN

 

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 27378026
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 3276
  • Trong tuần: 3276
  • Trong tháng: 845737
  • Trong năm: 19378026
Trang chủ

Cảm nhận từ chuyến đi tập huấn tại Hàn Quốc ( 11:15 | 13/11/2012 )

Bản để inGửi bài này qua Email

Một số nội dung về đất nước, con người và kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc qua chuyến tập huấn ở nước bạn.

         Trong khuôn khổ Dự án viện trợ (ODA) của Chính phủ Hàn Quốc đầu tư xây dựng Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn tại Bắc Giang, Đoàn công tác của tỉnh gồm 7 cán bộ đại diện Văn phòng UBND tỉnh và các sở: Giáo dục và Đào tạo, Lao động, Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư đã có chuyến tập huấn 2 tuần tại Trường Đại học Công nghệ và Giáo dục Hàn Quốc (Korea University of Technology and Education), Nhà trường là cơ quan trúng thầu hợp phầnPhát triển đào tạo và nghiên cứu khoa học của Dự án và cũng là cơ quan nhận trách nhiệm giúp đỡ, hỗ trợ kỹ thuật cho nhà trường tiếp sau này. Đoàn đã được các giáo sư hàng đầu của Trường Đại học Công nghệ và Giáo dục và một số trường đại học khác của Hàn Quốc trực tiếp giảng dạy, ngoài thời gian học tập tại trường, đoàn được phía bạn bố trí đi thăm cơ sở sản xuất của một số tập đoàn lớn của Hàn Quốc.

Bài viết đề cập đến một số vấn đề cảm nhận của cá nhân về đất nước, con người và một số kinh nghiệm phát triển đáng khâm phục của nền kinh tế nước bạn được tìm hiểu, tổng hợp qua bài giảng của các giáo sư, tư liệu và thực tế chuyến đi tập huấn.

1 - Vài nét về đất nước Hàn Quốc

Hàn Quốc nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên giáp 3 nước lớn là Trung Quốc, Nhật và Nga với diện tích 100,032 km2, có 70% diện tích là đồi núi, tài nguyên không có gì đáng kể, dân số 48,87 triệu người, chia làm 17 đơn vị hành chính gồm: Thủ đô Seoul, 7 thành phố trực thuộc trung ương (gồm cả thành phố tự trị đặc biệt Sejong) và 9 tỉnh.

Vào những năm 30 của thế kỷ trước, Hàn Quốc bị đô hộ, cuộc sống của nhân dân bần cùng, đói khổ, tương tự như nước ta cùng thời kỳ đó và mãi cho tới giai đoạn đầu thập niên 1960 vẫn còn là nước kém phát triển nhưng đến khi trở thành “con hổ Châu Á” và là nước công nghiệp tiên tiến tiến trên thế giới, Hàn Quốc chỉ mất có 50 năm.

Thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hàn Quốc bắt đầu từ khi Tổng thống Park Chung-Hee nắm quyền vào năm 1961, ông này thiết lập thể chế chính trị độc tài nhưng với quyết tâm phát triển đất nước rất mạnh mẽ. Mãi đến năm 1987, cuối thời của Tổng thống Chun Doo-Hwan, Hàn Quốc mới chuyển sang thể chế dân chủ bằng cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên do Roh Tae-Woo nắm quyền.

Hàn Quốc cất cánh vào những năm 80, khi đó quy mô GDP của Hàn Quốc mới chỉ vào 70-80 tỷ USD,trong vòng 20 năm trở lại đây, tốc độ phát triển rất cao, năm 2000, quy mô GDP của họ đã đạt trên 500 tỷ USD, đến năm 2011 đã đạt ngưỡng trên 1.172 tỷ USD, đứng thứ 13 thế giới và thứ 4 Châu Á; GDP bình quân đầu người đạt 24.000 USD, tăng 200 lần trong vòng 50 năm qua.

Đến Hàn Quốc, ấn tượng đầu tiên là về hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và môi trường được bảo vệ, đi đến đâu cũng thấy rừng cây xanh tốt, con người trọng tình cảm và mến khách. Từ khi bước vào giai đoạn "phát triển thần kỳ", chỉ trong thời gian ngắn, từ một quốc gia nghèo đói, phụ thuộc đã vươn mình đứng dậy trở thành một đất nước phát triển trên mọi mặt.

2- Bí quyết thành công.

Tại sao Hàn Quốc liên tục gặt hái thành công trong cả thời kỳ phát triển dài và dịch chuyển thành công từ giai đoạn tăng trưởng cao ban đầu sang giai đoạn phát triển bền vững như ngày nay? Nguyên nhân có 3 điều quan trọng: Có người đứng đầu và một chính phủ mạnh, có môi trường kinh tế thuận lợi, có chính sách phát triển công nghiệp đúng đắn và quan trọng là có chiến lược phát triển nhân lực bài bản. Thành công trong phát triển kinh tế của Hàn Quốc được gọi là “Kỳ tích sông Hàn” với 4 bí quyết chủ yếu sau:

Thứ nhất, ngay từ đầu đã có ngay sự đồng thuận của toàn xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật Bản, nước láng giềng từng đô hộ mình. Để có sự đồng thuận, thì năng lực, ý chí và chính sách của giới lãnh đạo chính trị theo chế độ độc tài được coi là yếu tố quan trọng nhất. Dưới chế độ độc tài, quyết tâm phát triển của lãnh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược, cơ chế, chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng.

Ở Hàn Quốc, nhà nước có truyền thống chọn nguời tài ra làm việc từ những người giỏi nhất ở các đại học danh tiếng nhất. Tổng thống Park Chung-Hee thời đó đã lập ra Hội đồng hoạch định kinh tế (Economic Planning Board) quy tụ những chuyên gia giỏi, tu nghiệp ở Mỹ và Tây Đức về, được giao toàn quyền hoạch định chiến lược.

Thứ hai, Hàn Quốc xây dựng được một cơ chế rất hiệu quả về quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp và có sự nỗ lực của doanh nghiệp trong quá trình học hỏi nước ngoài.

Vai trò của nhà nước rất lớn trong quá trình đuổi theo các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là khuyến khích giới doanh nhân tích cực đầu tư, tích lũy tư bản (nhưng tỉ lệ tiết kiệm ban đầu quá thấp phải vay nợ trong thời gian dài), do vậy nhà nước bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ và trả nợ.

Trong tình hình đó, ở nhiều nước khác, giới chủ doanh nghiệp thường cấu kết với quan chức để được tiếp cận vốn vay ưu đãi, ngoại tệ và với các nguồn hỗ trợ cho xuất khẩu. Nạn tham nhũng dễ phát sinh từ đó, nhưng Hàn Quốc đã giảm nhẹ được tệ nạn này nhờ có cơ chế minh bạch, nhất quán, công minh có tính kỷ luật rất cao và hà khắc.

Các doanh nghiệp đuợc nhận ưu đãi phải có nghĩa vụ tăng năng lực cạnh tranh, chẳng hạn phải xuất khẩu nhiều hơn truớc. Nếu không hoàn thành nghĩa vụ sẽ không được hưởng ưu đãi trong giai đoạn sau. Nói chung, các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau quyết liệt, đưa ra mục tiêu phấn đấu khả thi mới nhận được sự ưu đãi của nhà nước.

Tinh thần doanh nghiệp, nỗ lực học tập kinh nghiệm nước ngoài của giới kinh doanh rất lớn. Giữa thập niên 1980, Hàn Quốc thực hiện chiến lược đuổi bắt công nghệ do các doanh nghiệp thực hiện dưới sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Nhà nước, ấn tượng nhất là họ đưa ra khẩu hiệu phải theo kịp khả năng công nghệ của các công ty hàng đầu của Nhật Bản. Quốc sách theo kịp nước tiên tiến không phải là khẩu hiệu chung chung mà từng thành phần trong xã hội đều có kế hoạch cụ thể và nỗ lực thực hiện.

Thứ ba, giáo dục là chìa khoá dẫn đến thành công ngày nay, Hàn Quốc đã thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập (industrialization on the basis of learning). Vốn chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Nho giáo nên người Hàn Quốc luôn coi trọng học vấn và đầu tư việc học cho con cái bằng mọi giá. Đã từ lâu, Hàn Quốc nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giáo dục đào tạo với tương lai phát triển của đất nước. Cũng không thể bỏ qua ảnh hưởng của những nét văn hóa truyền thống, tôn sư trọng đạo, tinh thần phấn đấu vươn lên mạnh mẽ với một ý chí thép trong đó có lòng tự tôn dân tộc.

Để đưa đất nước đi lên, Hàn quốc rất coi trọng phát triển con người, nâng cao nguồn nhân lực. Nỗ lực của chính phủ trong giáo dục, đào tạo rất mạnh mẽ và nhất quán, đồng thời có cơ chế thúc đẩy nghiên cứu khoa học, công nghệ. Tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục vào cuối thập niên 1950 chỉ vào dưới 10% ngân sách nhà nước, nhưng đã tăng liên tục lên 15-18% trong thập niên 1960, và 19-21% trong đầu thập niên 1980.

Tỷ lệ học sinh cấp ba trong độ tuổi thanh thiếu niên tăng từ 34% năm 1965 lên 56% năm 1975 và đạt 91% vào năm 1984. Tỷ lệ sinh viên đại học trong thời gian đó tương ứng là 6%, 10% và 26%. Hàn Quốc là một trong những nước có tỷ lệ rất cao với hai chỉ tiêu: Tỷ lệ của sinh viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỷ lệ nguời du học trở về trên tổng số sinh viên đi du học. Thành quả này nhờ có các cơ chế thi tuyển và đãi ngộ người tài.

Thứ tư, đất nước Hàn Quốc nghèo tài nguyên nhưng con người cần cù, chịu khó và chăm chỉ trong lao động; biết tận dụng các nguồn lực nội tại và tiết kiệm để phát triển kinh tế. Người Hàn Quốc có lối sống và làm việc nhanh nhẹn, gấp gáp. Điều này có ảnh hưởng tích cực là những công trình của Hàn Quốc nói riêng và các kế hoạch phát triển hàng năm, 5 năm nói chung, người Hàn đều hoàn thành trước thời hạn. Khi đã sống và cùng làm việc với những người Hàn Quốc thì mới cảm thấy lối sống công nghiệp luôn rảo bước với nhịp quay của thời gian và thời đại, là cách sống biết trân trọng thời gian và coi đó là nguồn tài nguyên vô giá nhất của người Hàn Quốc.

Bốn yếu tố nói trên được thực hiện nhất quán trong suốt quá trình đuổi theo các nước tiên tiến với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của chính phủ nhưng nội dung của các cơ chế, chính sách thì thay đổi theo nhu cầu phát triển của mỗi thời kỳ.

Quan điểm của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài bằng mọi giá mà khuyến khích đầu tư trong nước. Thời kỳ đầu phát triển, Chính phủ đi vay ngoại tệ của nước ngoài về cho các DN vay lại, ngày nay khi thăm Hàn Quốc, rất ít thấy bóng dáng của các tập đoàn lớn của nước ngoài đầu tư ở đây, việc sử dụng ô tô thì chủ yếu là ô tô trong nước sản xuất. Đến đầu thập niên 1980, vai trò của nhà nước trong việc phân bổ nguồn lực giảm dần, thay vào đó tập trung vào giáo dục, nghiên cứu khoa học để tạo tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên cao hơn.

Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy cơ chế động viên mọi nguồn lực của xã hội vào mục tiêu được xã hội đồng thuận, nhất là chính sách huy động và sử dụng nguồn nhân lực, tạo quan hệ lành mạnh giữa nhà nước với doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để phát triển nhanh và bền vững.

Công tác kế hoạch hoá nền kinh tế cũng rất được coi trọng, năm 1962, nước này đưa ra kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm, tập trung nỗ lực trên cả công nghiệp và nông nghiệp với mục tiêu vượt qua đói nghèo và đạt được thành tựu trong phát triển nông thôn. Từ lúc bắt đầu kế hoạch phát triển kinh tế vào năm 1962, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng và thực hiện 7 kế hoạch 5 năm song đến năm 2000, kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ 7 thì không xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm nữa chỉ còn các kế hoạch phát triển hàng năm, do quy mô nền kinh tế quá lớn và mang tính toàn cầu.

3- Các dấu mốc và chính sách phát triển kinh tế:

Hàn Quốc đi lên chủ yếu nhờ sự chèo lái của nhà nước, trong những năm 60, nhà nước đã tạo ra một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển công nghiệp và từ đó tạo ra sự phát triển mang tính bùng nổ.  Đất đai ít, thiếu tài nguyên nhưng bù vào đó là khả năng nhập nguyên liệu rẻ, hàng thành phẩm có thể mua với giá hạ và tận dụng nguồn lao động dồi dào của mình cùng với sự cần cù, khéo tay của người Hàn Quốc nên đã đẩy mạnh phát triển công nghiệp gia công, lắp ráp.

Thị trường trong nước nhỏ nhưng lợi dụng chính sách mậu dịch tự do quốc tế, dựa vào những điều kiện tốt của mình để cạnh tranh xuất khẩu. Từ đó hình thành đường lối thu hút vốn, nhập kỹ thuật, thiết bị, nguyên liệu, hàng sơ chế, tiến hành gia công, rắp ráp, bán ra nước ngoài.

Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt ưu tiên đầu tư vốn vay cho các công ty xuất khẩu thông qua chính sách lãi suất âm trong vay vốn ngân hàng. Chính phủ đã nhận ra chiến lược thay thế nhập khẩu không phát huy được tác dụng và đã điều chỉnh bằng giải pháp uyển chuyển hơn, khuyến khích DN tự cung cấp cho thị trường nội địa bằng các sản phẩm, bán sản phẩm do Hàn Quốc sản xuất để tránh phải nhập khẩu.

Giai đoạn 1961- 1973: Thời kỳ đầu, Hàn Quốc bắt đầu áp dụng chính sách thúc đẩy chuyển dịch lao động để phát triển công nghiệp là giữ giá nông sản thấp, để nông dân phải chuyển đổi nghề, điều này khác với Việt Nam, rồi xây nhà ở và trường học cho công nhân ở các KCN, có chính sách làm cho công nhân có thu nhập gửi về nhà. Nguồn tài chính thì Chính phủ đi vay nước ngoài hoặc bảo lãnh cho DN vay, lúc đó ở Hàn Quốc mới chỉ chủ yếu là DN nhỏ, tập trung phát triển công nghiệp nhẹ, thâm dụng lao động, như may mặc, giày, dép, tóc giả, lông mi giả, hàng hoá xuất khẩu là chủ yếu.

Nhờ có các quyết sách chiến lược đúng đắn như phát triển đào tạo, đầu tư nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, hướng vào xuất khẩu, kết quả là quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng,công nghiệp Hàn Quốc đã tăng trưởng nhanh, đạt mức 9,3%/năm. Do tăng xuất khẩu, Hàn Quốc thu được ngoại tệ, do đó có cơ hội nhập khẩu nhiều hơn, làm cho đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Giai đoạn 1973- 2000: Những năm 70 diễn ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định thứ hai. Năm 1973, cú sốc giá dầu và sự cạnh tranh của các nước đi sau trong khu vực, công nghiệp nhẹ, thâm dụng lao động không còn hiệu quả nữa, Chính phủ quyết tâm phát triển công nghiệp nặng với khẩu hiệu “Big 5+1” bao gồm: Thép (Steel), đóng tàu (Shipbuilding), ô tô (Car), điện tử (Electronic), lọc hoá dầu (Petro- chemic) và xây dựng (Contruction).

Để phát triển CN nặng cần có vốn, công nghệ, lao động có kỹ năng, tay nghề. Vấn đề là tài chính và công nghệ lấy ở đâu? Làm thế nào để có đội ngũ lao động như thế?

Hàn Quốc kêu gọi các nước giúp đỡ lúc đó thì chỉ có Tây Đức đứng ra giúp cho việc đào tạo, chuyển giao công nghệ, Hàn Quốc đã cử rất nhiều chuyên gia sang học tập tại Tây Đức.

Còn vốn thì lấy ở đâu? Mặc dù giai đoạn 1961- 1973 đã tích luỹ được một số tiền đáng kể nhưng vẫn không đủ, do vậy Chính phủ Hàn Quốc áp dụng 3 chính sách: Loan (vay vốn), Việt Nam và Trung Đông (xây dựng). Hàn Quốc đã tranh thủ được nhiều sự giúp đỡ tài chính của Hoa Kỳ thông qua làm lính đánh thuê cho Mỹ ở chiến tranh Việt Nam và tiền bồi thường chiến tranh từ Nhật Bản, tiền vay của Ngân hàng nước ngoài và các định chế tài chính thế giới, lợi nhuận từ nhận thầu xây dựng ở Trung Đông cộng vào để phát triển công nghiệp nặng mà mấu chốt ở đây là ưu tiên phát triển ngành công nghiệp thép trở thành then chốt, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác phát triển.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 xảy ra thì nhiều tập đoàn lớn lao đao, có một ít bị phá sản. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã chấp nhận vay khẩn cấp của IMF khoản vay lên tới 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo và tiến hành cải cách mạnh mẽ, kết quả là đã khắc phục được khủng hoảng và trả xong nợ cho IMF trong thời gian chỉ có 3 năm (1998-2000). Đến tháng 7/2003, dự trữ ngoại tệ quốc gia đã đạt tới 133 tỷ USD.

Làm thế nào để tạo ra đội ngũ lao động có kỹ năng, tay nghề, trí tuệ và trái tim nhiệt huyết? Điều kiện tiên quyết là muốn đào tạo phát triển nhân lực phải đi song song với chính sách phát triển công nghiệp, nếu không có thì không thể phát triển đào tạo.

Hàn Quốc đã kết hợp uyển chuyển giữa 2 hệ thống đào tạo của Mỹ và Tây Đức, về công nghệ chủ yếu của Tây Đức, về phương pháp thì áp dụng của Mỹ. Định hướng đào tạo nhân lực của Hàn Quốc được phân làm 5 loại và chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu, đào tạo đồng thời cả năm nhóm: Nhà khoa học - kỹ sư lý thuyết - kỹ sư thực hành- lao động lành nghề và lao động giản đơn. Giai đoạn 2 thì kỹ sư thực hành và lao động lành nghề tăng lên. Giai đoạn 3 không còn lao động giản đơn, kỹ sư tăng lên cả lý thuyết và thực hành, Hàn Quốc hướng tới tỷ lệ này là 50 - 50. Quá trình này không hề có sự đột biến hay nhảy vọt nào cả, phải đi tuần tự, theo chu trình phát triển.

Khi chúng tôi đến thăm một số trường cao đẳng và đại học của Hàn Quốc, điều đáng chú ý là cả giáo trình và người giảng dạy điều phải cập nhật hàng ngày kiến thức từ thực tế, từ các công nghệ mới để bổ sung vào giáo trình. Giữa giáo viên lý thuyết và thực hành hiện nay không còn khoảng cách, giáo viên thực hành cũng đi giảng lý thuyết, ở các trường bách khoa, giáo viên lý thuyết cũng phải giỏi thực hành.

Các doanh nghiệp tại Hàn Quốc đều gắn bó mật thiết với các cơ sở đào tạo và ngược lại các cơ sở đào tạo cũng lấy DN làm mục tiêu chính để đào tạo và phát triển bền vững. Nhà trường phải chủ động hỏi các DN cần gì? Thậm chí không có giáo viên thì mời giảng viên của DN đến dạy. Do vậy các chương trình giảng dạy rất cần có sự tham vấn của doanh nghiệp. Chính phủ khuyến khích những người có kinh nghiệm đến giảng dạy tại các trường đào tạo nghề. Sự hợp tác giữa nhà trường và DN cần có các chiến lược để gắn kết cụ thể, DN chính là khách hàng của trường và cũng là nhà tài trợ chiến lược của nhà trường, xã hội luôn thay đổi, nhà trường và các DN cũng vậy, phải luôn đổi mới để phát triển, phải hội nhập, kết hợp công nghệ, tối ưu hoá, hiệu quả, chi phí thấp nhất, kết quả cao nhất.

Nguồn tài chính phục vụ đào tạo được lấy từ thuế và kinh phí của DN, các DN ở Hàn Quốc hiểu rằng phải tích cực đầu tư vào giáo dục và nguồn nhân lực mới có cơ hội phát triển, các DN tự thành lập trung tâm đào tạo để đào tạo cho chính công nhân của mình hoặc đầu tư vào các trường đại học, cao đẳng để trở thành nơi nghiên cứu phát triển công nghệ, quản trị kinh doanh và đào tạo nhân lực có kỹ năng cho DN.

Lấy ví dụ hãng Samsung đã đầu tư rất lớn vào 2 trường: Đại học Công nghệ và Giáo dục Hàn Quốc và Đại học Kinh doanh Kaist. Với Đại học Công nghệ và Giáo dục Hàn Quốc nhằm phát triển công nghệ và thiết kế; với Đại học Kinh doanh Kaist nhằm mục tiêu quản lý kinh doanh, trong 2 năm đầu tiên, Samsung đã hỗ trợ các sinh viên của trường, những người sau đó đã trở về Samsung làm việc ở vị trí quản lý. Nhiều nhà quản lý xuất sắc nhất tin rằng việc đào tạo về kinh doanh cho những người có chuyên môn kỹ thuật là sự kết hợp tốt nhất với quan điểm tạo ra giá trị. Sẽ thật khó khăn khi quản lý Samsung mà không hiểu về công nghệ.

Đáng chú ý là mô hình Công viên Công nghệ (Techno Park) được nhà nước chú trọng hỗ trợ phát triển để kích thích sự hợp tác giữa công nghệ và kinh doanh bằng cách tập trung hóa hoạt động cải tiến công nghệ tại các doanh nghiệp, trường đại học, và các viện nghiên cứu, tạo thành các cụm cải tiến công nghệ. Kể từ năm 1997 tới nay, Hàn Quốc đã đưa vào hoạt động bảy Công viên Công nghệ ở Ansan, Songdo, Chungnam, Gwangju, Jeonnam, Daegu và Gyeongbuk.

Hiện nay, tại các DN lớn, đội ngũ công nhân tay nghề cao có thu nhập rất cao, bình quân khoảng 60.000 USD/năm, cổ cồn xanh trở thành tầng lớp trung lưu của xã hội, họ có điều kiện giáo dục con cái tốt hơn, họ trở thành nhân tố quan trọng của công nghiệp Hàn Quốc. Sau năm 1979, chính tầng lớp này là lực lượng tiên phong thúc đẩy dân chủ hoá. Những năm gần đây, Hàn Quốc đã và đang cố gắng nỗ lực để trở thành một trong những quốc gia đứng đầu về công cuộc phát triển bền vững và vì chính chất lượng cuộc sống của con người.

Những năm gần đây, nền kinh tế Hàn Quốc đang bị thiếu hụt lao động, nên đã phải tuyển dụng lao động nước ngoài. Khi chúng tôi đến thăm Viện phát triển nhân lực của Hàn Quốc (Human Resources Development Institute of Korea), phía bạn cho biết hiện tại đang có khoảng 180 ngàn lao động nước ngoài đang làm việc tại Hàn Quốc, trong đó lao động Việt Nam nhiều nhất với số lượng 84 ngàn người, gấp đôi nước xếp sau là Philipin.

Tuy nhiên có điều đáng buồn là lao động nước ta chủ yếu là lao động phổ thông với mức lương bình quân từ 1.000 -1.500 USD/tháng và số lượng người lao động bỏ trốn, không chịu về nước cũng nhiều nhất với số lượng trên 10 ngàn người, chính vì vậy, Hàn Quốc đã giảm bớt chỉ tiêu hạn ngạch tuyển dụng lao động Việt Nam.

4- Vai trò của các Chaebol và sự can thiệp sâu của nhà nước.

Tại Hàn Quốc, các Chaebol chính là nhà nước và nhà nước là Chaebol. Tổng thống Lee Myung-bak từng làm việc nhiều năm tại Hyundai. Theo nhận định của nhiều người thì điều đó cho đến nay hầu như vẫn chưa thay đổi. Sự kết nối chặt chẽ giữa nhà nước với giới kinh tế là điều được nhiều người Hàn Quốc mong muốn.

Các Chaebol nhận được sự ưu đãi đặc biệt của nhà nước nhằm bảo đảm những công ty này hoạt động theo định hướng của nhà nước, Chính phủ đã chỉ thị các ngân hàng nhà nước cung cấp vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp cho các công ty này, đồng thời thực hiện việc giám sát tài chính đối với các khoản nợ ưu đãi. Với chủ trương nhà nước gánh bớt rủi ro tài chính để các Chaebol yên tâm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế theo kế hoạch nhà nước đề ra, chính phủ bảo lãnh việc trả nợ trong trường hợp công ty không thể thanh toán các khoản vay tín dụng nước ngoài. Chính phủ cũng giảm thuế đánh vào các Chaebol, đặc biệt là đối với các công ty xây dựng thực hiện các công trình kết cấu hạ tầng như cầu và đường cao tốc của quốc gia.

Các Chaebol đã có chiến lược tiếp cận công nghệ mới một cách có hiệu quả. Thời kỳ đầu, thay vì tự mình nghiên cứu và phát triển công nghệ, các công ty Hàn Quốc đã mua bản quyền và công nghệ của nước ngoài để sản xuất các loại hàng hóa tương tự nhưng với chi phí rẻ hơn. Sau khi đã phát triển ở trình độ cao, Các chaebol đã sáng tạo ra những công nghệ và sản phẩm mới đủ sức cạnh tranh với các nhà sản xuất truyền thống. Quan sát sự cạnh tranh của các mặt hàng: Ô tô, ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa không khí, máy giặt, điện thoại di động do Hàn Quốc và Nhật Bản sản xuất, có thể thấy rõ xu thế này.

Các tập đoàn kinh tế khổng lồ ngày nay được điều hành bởi các dòng họ trở thành rường cột của nền kinh tế và đạt được thành công lớn, 5 Chaebol lớn nhất (Samsung, Hyundai, LG, Posco và SK) tạo ra tới 30% tổng GDP của Hàn Quốc, nhiều Chaebol xếp thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực ví dụ: Năm 2012, về điện tử Samung xếp thứ nhất, về thép Posco đứng thứ 3, về ô tô Huyndai xếp thứ 5 thế giới. Các Chaebol hoạt động độc lập với ngân hàng, nhưng ngay cả những ngân hàng lớn nhất ở Hàn Quốc cũng không thể cung cấp đủ tín dụng cho các Chaebol. Các Chaebol phải tự tìm nhà đầu tư trên thị trường tài chính đồng thời nhận được sự hỗ trợ dồi dào từ phía nhà nước.

Samsung là Chaebol lớn nhất, hãng này không chỉ sản xuất hàng điện tử mà còn tham gia những lĩnh vực khác như xây dựng, đóng tàu biển, sản xuất hóa chất và là hãng bảo hiểm lớn nhất Hàn Quốc hiện nay. Ở lĩnh vực xây dựng, Samsung tham gia xây tòa nhà Burj Khalifa 828 m cao nhất thế giới ở Dubai. Trong công nghệ IT, Samsung đã có thể cạnh tranh ngang ngửa với Apple. Samsung mới đây đã chọn một lĩnh vực đầu tư mới theo yêu cầu của nhà nước vào lĩnh vực hóa sinh, nhà nước hỗ trợ tài chính đáng kể cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và một phần cho khâu xây dựng năng lực sản xuất.  

Các tập đoàn lớn khác như Hyundai, Posco, SK, LG cũng đều kinh doanh đa ngành. Có thể nói đến sự thành công ngoài mong đợi của Huyndai Motor, một phân nhánh kinh doanh đa ngành của Hyundai: Thành lập năm 1967, năm 86 đã xuất khẩu xe sang Mỹ, năm 2000 ra đời dòng xe KIA và thành lập hãng KIA Motor riêng, năm 2004 đạt doanh số 10 triệu xe, hiện đã có các nhà máy tại Mỹ, Séc, Nga, Ấn Độ, Braxin. Chúng tôi đã tới thăm nhà máy ô tô của Hyundai chuyên sản xuất các dòng xe: Santafe, I30, Avante và Sonata tại Ulsan toạ lạc trên diện tích 65 ha, có 5 phân xưởng với 45 ngàn công nhân, sản suất mỗi ngày tới 6.000 xe phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu ra toàn cầu.

 5- Về nông nghiệp, nông thôn và phong trào “Saemaul Undong”

Hàn Quốc những năm 1960 là giai đoạn chìm trong đói nghèo, người dân nông thôn tuyệt vọng vào tương lai và phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Tổng thống Park Chung Hee nhận ra rằng sự trợ giúp của Chính phủ sẽ là vô nghĩa nếu người dân không tự giúp chính mình, hơn nữa khuyến khích nội lực trong cộng đồng nông thôn và mở rộng hợp tác là chìa khóa để phát triển nông thôn. Đây cũng chính là nền tảng của phong trào Saemaul Undong, nghĩa là phát triển hoặc cải cách cộng đồng thành một nơi tốt đẹp hơn. Tinh thần Saemaul Undong được xây dựng trên 3 trụ cột: Chuyên cần - Tự giác - Hợp tác. Ba trụ cột đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung.

Phong trào Saemaul Undong bắt đầu từ năm 1970 với mục tiêu nâng cao điều kiện sống của người dân nông thôn, lúc đó 80% hộ gia đình nông thôn chỉ có nhà lợp mái rạ, 27% dân số có điện thắp sáng, tỷ lệ đói nghèo chiếm 34%. Trong thập niên 70, Chính phủ đã nhìn thấy tiềm lực của Saemaul Undong nhưng không lấy đâu ra tiền để đưa các dự án về nông thôn, những khoản vốn nhỏ giọt chỉ đủ gói gọn cho 10 nội dung thí điểm phát triển nông thôn: Mở rộng và cứng hóa đường nông thôn; kiên cố hóa mái nhà, bếp, tường rào; xây cầu; nâng cấp hệ thống thủy lợi; mở địa điểm giặt và giếng nước công cộng.

Thời điểm đó ở Hàn Quốc giá lao động nông nghiệp và đất đai nông thôn khá rẻ. Chính sách sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu và phát triển công nghiệp tạo ra nhiều vật tư xây dựng cơ bản như xi măng, sắt thép tồn kho, do đó Tổng thống Hàn Quốc quyết định huy động những yếu tố có sẵn ấy để tạo ra công ăn việc làm cho lao động nông thôn, vừa kích cầu tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp vừa xây dựng được cơ sở hạ tầng nông thôn theo chính sách: Nhà nước bỏ ra 1 (chủ yếu là xi măng, sắt thép...) thì nhân dân đóng góp 5-10 (công sức, đất đai và tiền của). Sự giúp đỡ của nhà nước trong năm đầu chiếm tỷ lệ cao, các năm sau giảm dần trong khi địa phương và nhân dân tham gia tăng dần. Nhà nước chuyển toàn bộ vật tư cho nhân dân quản lý.

Năm 1971 có 33.267 làng nhận bình quân mỗi làng 355 bao xi măng cấp không thu tiền. Hệ thống chính quyền cấp làng tự quyết định phương án sử dụng xi măng. Đất làm đường huy động người dân đóng góp, người dân cũng phải tự bỏ công sức lao động để thực hiện nhiệm vụ do chính quyền đề ra.

Kết quả là có hơn 16.000 làng đã thay đổi được phần nào bộ mặt nông thôn. Sang năm 1972, ở những làng có kết quả tốt hơn, mức đầu tư của Chính phủ tăng lên 500 bao xi măng và 1 tấn sắt, thép. Nhờ đó mà nông thôn Hàn Quốc đã có bước thay đổi mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, Chính phủ tập trung vào các dự án đem lại sức sống mới cho làng như sửa sang nhà cửa, mở rộng đường, xây cầu, đường nội đồng, trung tâm cộng đồng, các cơ sở cung cấp nước, tăng thu nhập cho người dân thông qua trồng trọt để thu hoa lợi, thực hiện và duy trì chiến dịch xóm làng sạch sẽ và chiến dịch tiết kiệm. Cải thiện chế độ ăn uống, thực hiện các chiến dịch chi tiêu thông minh, tái chế, đọc sách, đào tạo...

Đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề nông, đưa tiến bộ KHKT, các loại giống mới vào sản xuất như nấm, cây thuốc lá... Chính phủ Hàn Quốc rất nỗ lực trong việc sản xuất vật liệu đầu vào cho nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, máy nông nghiệp... năm 1979, đất nước đã tự cung tự cấp được phân bón, thậm chí còn xuất khẩu.

Quan điểm của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp vì lo ngại lợi nhuận các công ty hưởng, còn nông dân suốt đời làm thuê. Chủ trương của họ là đầu tư hạ tầng để nông dân tự mình đứng lên, thành lập DN sản xuất chế biến tại chỗ, tạo cho nông dân là người chủ đích thực. Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản. Ngân hàng nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác...Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để tăng thu nhập, tạo việc làm cho người dân.

Tinh thần Saemaul Undong vượt biên giới làng quê nông thôn, lan tỏa đến thành phố, vượt quy mô hộ gia đình đi vào các trường học, công sở, nhà máy. Đời sống nông thôn nâng cao rõ rệt, thu nhập của người dân nông thôn đã cao hơn thành thị, hầu hết các xã đã có thể độc lập về kinh tế; năm 1976, lượng gạo sản xuất ra vượt quá nhu cầu nội địa. Khắp nơi nhà mới mọc lên, bộ mặt nông thôn phát triển nhanh chóng, thu nhập gia đình nông thôn tương đương thu nhập bình quân của các hộ ở thành phố. 

5- Những thách thức phía trước và sự tiếp tục nỗ lực đổi mới.

Sự phát triển không ngừng của Hàn Quốc sẽ còn tiếp diễn được bao lâu là vấn đề còn bỏ ngỏ. Bởi nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, tập trung vào hàng điện tử, ô tô, tàu biển, máy móc, hóa dầu, nhưng Hàn Quốc đi lên bằng cách sao chép các sản phẩm sáng tạo của phương tây và cải tiến, nâng cấp chúng với giá thành rẻ hơn. Hiện nay GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc vẫn còn ở dưới mức trung bình của các nước OECD.

Hàn Quốc đang đứng đầu về công nghiệp điện tử nhưng chưa thể cạnh tranh nổi trong nhiều lĩnh vực khác như công nghệ sinh học hay vật liệu composite. Ngay cả trong lĩnh vực công nghiệp điện tử, Hàn Quốc vẫn phải nhập khẩu nhiều loại linh kiện của nước ngoài. Con đường từ bắt chước đến sáng tạo của Hàn Quốc còn rất xa và nhiều điều phải làm.

Về kinh tế, nguy cơ lớn nhất của Hàn Quốc có lẽ là sự lệ thuộc vào các Chaebol. Nhà nước đã có chính sách, nhiều dự án khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ nhưng cho đến nay không mấy thành công vì các Chaebol hùng mạnh luôn chèn ép các doanh nghiệp nhỏ. 

Mặt khác, nhóm các nước đang phát triển (BRICs) gồm: Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc nổi lên cạnh tranh rất mạnh, là những thách thức lớn đối với Hàn Quốc. Do vậy muốn thắng trong cạnh tranh phải có chiến lược đúng và khôn ngoan, Chính phủ Hàn Quốc đã nhanh chóng có đối sách kịp thời, mục tiêu là phải tạo ra ngày càng nhiều ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, Chính phủ khuyến khích áp dụng chính sách 6 T: ICT- NT (Công nghệ nano: Nano tech)- BT; (Công nghệ sinh học: Bio tech)- ST; (Công nghệ vũ trụ: Space tech)- ET; (Công nghệ xanh: Green tech)- CT; (Công nghệ văn hoá: Culture tech mà chúng ta đều thấy rõ từ phim ảnh, âm nhạc K-Pop của họ ảnh hưởng tới giới trẻ ngày nay như thế nào).

Đồng thời, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh với mục tiêu phấn đấu trở thành quốc gia nằm trong 7 quốc gia đứng đầu thế giới về tăng trưởng xanh vào 2020 và phấn đấu nằm trong 5 quốc gia đứng đầu thế giới vào 2050 và hy vọng điều đó sẽ trở thành sự thật.

6 - Một số khuyến nghị, đề xuất.

Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốclà mối quan hệ giữa hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa đặc biệt. Trong những năm qua, mối quan hệ không ngừng phát triển tốt đẹp vượt trên quan hệ thông thường và đã trở thành “đối tác chiến lược”, Hàn Quốc đứng thứ 4 trong số 10 đối tác quan trọng nhất của Việt Nam, là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam với kim ngạch thương mại năm 2011 đạt trên 13 tỷ USD, gấp 30 lần so với thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 1992.

Hiện nay Hàn Quốc đứng đầu về số dự án đầu tư với 3.071 dự án và đứng thứ hai về vốn đăng ký (24,24 tỷ USD) trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc đã và đang đầu tư tại Việt Nam như Samsung, Kumho Asiana, Posco, CJ, Lotte...

Đối với Bắc Giang, Chính phủ Hàn Quốc đã viện trợ không hoàn lại 10 triệu USD để xây dựng Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn. Bắc Giang có khoảng 1.700 lao động đang làm việc tại nước bạn và Hàn Quốc hiện có 47 dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh, vốn đăng ký 207 triệu USD, đứng đầu về số dự án và đứng thứ ba về vốn đăng ký trong tổng số 13 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bắc Giang.

Các dự án đầu tư của doanh nghiệp Hàn Quốc đã có đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Năm 2011, giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp Hàn Quốc đạt 238,7 triệu USD, chiếm gần 31,3% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh; đóng góp cho ngân sách địa phương 12 tỷ đồng; sử dụng thường xuyên khoảng 23.000 lao động với thu nhập bình quân khoảng 3 triệu đồng/lao động/tháng.

Bắc Giang đang trong quá trình phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới, nên rất cần trao đổi, học tập kinh nghiệmđi trướccủa Hàn Quốc và mong muốn tăngcườngthu hút đầu tư phát triển, hỗ trợđào tạo, chuyển giaocông nghệ từ Hàn Quốc đểđẩymạnh phát triển kinh tế-xã hội.Tuy nhiên, đến nay chúng ta chưa thu hút được các tập đoàn lớn của Hàn Quốc đầu tư vào địa bàn.

 Vì vậy, cần có kế hoạch và giải pháp cụ thể để chủ động tăng cường quan hệ sâu hơn với Hàn Quốc nhằm mục đích tích cực tranh thủ phía bạntăng cườnggiúp đỡ tỉnh phát triển kết cấu hạ tầng, đào tạo nhân lực chất lượng cao và hỗ trợ phát triển lĩnh vựccông nghiệp,dịch vụ.

Cần nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư hơn nữa, nhất là về đất đai, nhân lực để có thể cạnh tranh trong thu hút đầu tư. Đổi mới căn bản việc xúc tiến đầu tư, không thụ động ngồi chờ mà chủ động tìm đến vận động các DN mục tiêu; có kế hoạch xúc tiến đầu tư thật cụ thể, hướng tới mục tiêu tổ chức vận động, thu hút đầu tư của các tập đoàn hàng đầu của Hàn Quốc vào Bắc Giang, có thể tính đến việc xúc tiến, vận động Tập đoàn Huyndai Motor đầu tư vào địa bàn, theo tìm hiểu của chúng tôi ở Hàn Quốc, thì thực sự Huyndai Motor chưa trực tiếp đầu tư vào Việt Nam với nhiều lý do, trong đó phải kể đến chất lượng nguồn nhân lực và chính sách vĩ mô đối với công nghiệp ô tô. Các dự án liên doanh đầu tư sản xuất động cơ Huyndai cỡ nhỏ ở Khu Kinh tế Chu Lai của Quảng Nam và của Huyndai Thành Công ở KCN Gián Khẩu của Ninh Bình chỉ là các DA do Tập đoàn Huyndai Motor chuyển giao công nghệ mà thôi.

Tích cực thúc đẩy việc liên kết, hợp tác đào tạo với Đại học Công nghệ và Giáo dục và các cơ sở đào tạo khác của Hàn Quốc. Riêng với Trường Cao đẳng công nghệ Việt - Hàn, xác định đây là cầu nối với Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOIKA) và Đại học Công nghệ và Giáo dục Hàn Quốc, khi chúng tôi đến Hàn Quốc, các giáo sư hàng đầu ở các trường đại học đều có quan hệ mật thiết với các tập đoàn lớn và trong chuyến tập huấn, điều làm chúng tôi thực sự cảm động là tình cảm và sự chia sẻ dành cho Việt Nam của các giáo sư là rất đáng trân trọng, chúng ta có thể thông qua con đường này để tiếp cận, vận động đầu tư đối với một số tập đoàn lớn.

Cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để phía bạn tiếp tục giúp đỡ Bắc Giang thông qua Dự án Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn nhằm hỗ trợ  đổi mới, nâng cao năng lực đào tạo nghề, tăng cường đào tạo nhân lực chất lượng cao và nhân sự cấp cao cho một số DN trên địa bàn tỉnh, góp phần quan trọng tháo gỡ nút thắt về chất lượng nhân lực; kết nối hoạt động của nhà trường đối với các doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc đầu tư tại địa bàn và đặc biệt là phát triển mối quan hệ với Samsung Việt Nam ở KCN Yên Phong trong việc đào tạo, thực tập, tuyển dụng lao động làm việc./.

 

                                                                                                                         Đỗ Quốc Tuấn

Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư