DIỄN ĐÀN

 

Liên kết

 

Thống kê truy cập
  • Total: 27101090
  • Visitor Online: 0
  • Hôm nay: 1209
  • Trong tuần: 19772
  • Trong tháng: 568801
  • Trong năm: 19101090
Trang chủ

Tái cấu trúc nền kinh tế nhìn từ góc độ địa phương ( 15:33 | 28/12/2012 )

Bản để inGửi bài này qua Email

Cấu trúcnền kinh tế là một hệ thống hết sức phức tạp,  nó bao gồm việc tổ chức sản xuất, phân phối và tiêu dùng của cải trong một lãnh thổ. Có thể coi nền kinh tế như một hệ thống “mạng” mà các “nút” là các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp, hộ kinh doanh) và các tổ chức khác trong đó có tổ chức nhà nước. Tái cấu trúc nền kinh tế chính là một quá trình tổ chức lại nền kinh tế, với bản chất cốt lõi là thay đổi các tổ chức kinh tế, tổ chức nhà nước và mối quan hệ hình thành lên nền kinh tế. 

Ở nước ta, tái cấu trúc nền kinh tế đã được đặt ra ngay từ những năm 2007-2008, khi thế giới rơi vào khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu suy giảm, ở trong nước kinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát tăng cao. Tuy nhiên, trước đó, từ đầu những năm 2000 các chuyên gia kinh tế đã đề nghị Chính phủ cần phải nhanh chóng chuyển mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên khoáng sản sang mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, dựa vào lợi thế cạnh tranh quốc gia, phát triển khoa học công nghệ, lao động có tay nghề cao.

Sau Đại hội Đảng lần thứ XI, vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế càng được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, nhất là khi một số Tập đoàn kinh tế nhà nước đổ vỡ, lạm phát tăng cao, nền kinh tế bước vào vòng xoáy suy giảm mới. Ở cấp độ quốc gia, vào tháng 6/2012, Chính phủ đã trình Quốc hội Đề án tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế với trọng tâm tập trung vào 3 nhóm quan trọng là: Đầu tư công, Hệ thống ngân hàng, Doanh nghiệp nhà nước.

Đề án cũng đặt ra 13 nhóm giải pháp: nâng cao chất lượng quy hoạch, đổi mới cơ chế phân bổ nguồn vốn, nâng cao hiệu quả DNNN, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực…. Tuy nhiên, ở cấp độ địa phương, Đề án chưa đặt ra những vấn đề cụ thể, mới chỉ đề cập việc tận dụng lợi thế so sánh của từng địa phương để các địa phương kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau hơn là cạnh tranh để rồi tạo ra sự chia cắt.

Như vậy việc tái cấu trúc nền kinh tế nhìn từ góc độ địa phương đang là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa được quan tâm đúng mức trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế chung của quốc gia. Một số câu hỏi đặt ra là: địa phương đứng ở đâu trong việc tái cấu trúc kinh tế của cả quốc gia? Tái cấu trúc kinh tế địa phương xuất phát từ đâu? Theo lộ trình như thế nào? Cách chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu như thế nào? vv… Đây là những câu hỏi không dễ gì giải đáp, trong khi đó Đề án tổng thể tái cấu trúc của quốc gia vẫn chưa được thông qua.

Với những nghiên cứu ban đầu, chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số vấn đề trao đổi sơ bộ về vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, nhìn từ góc độ địa phương.

         Thứ nhất, những hạn chế chủ yếu của mô hình tăng trưởng và cấu trúc nền kinh tế hiện tại ở địa phương.

Về tư duy:Chúng ta vẫn còn “vương vấn” tư duy điều hành của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây, chưa thật sự tư duy điều hành địa phương theo nền kinh tế thị trường, có xác định yếu tố hội nhập quốc tế. Có nghĩa là vẫn còn quan điểm xác định địa phương như một “quốc gia nhỏ”, phát triển đồng thời cả công nghiệp, thương mại dịch vụ, nông lâm nghiệp. Chính nguyên nhân này dẫn đến  tình trạng tồn tại “63 quốc gia” kinh tế trên đất nước ta như hiện nay. Các địa phương có mô hình phát triển kinh tế hao hao như nhau. Từ việc triển khai xây dựng nhà máy xi măng, nhà máy bia… đến xin đầu tư xây dựng cảng, sân bay, khu công nghiệp… Chúng ta chưa nhận thấy hết lợi thế so sánh và cơ hội của địa phương để định hướng phát triển những lĩnh vực, ngành nghề mà địa phương có thế mạnh hơn khi so với các tỉnh lân cận và ảnh hưởng trong khu vực quốc tế. Vì vậy không gian kinh tế của cả quốc gia đang bị chia cắt, cát cứ theo đơn vị hành chính tỉnh, thành. Kinh tế vùng chưa hình thành bằng sự kết nối hữu cơ, hợp tác và bổ sung lẫn nhau.

Về chất lượng tăng trưởng:Trước đây 10 năm, chúng ta hồ hởi bắt tay đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, nhiều diện tích đất lúa 2 vụ “bờ xôi, ruộng mật” bị thu hồi và chuyển đổi sang làm khu, cụm công nghiệp. Với mục tiêu tăng trưởng nhanh dẫn đến thu hút đầu tư vội vàng, thiếu chọn lọc, phần nhiều các dự án đầu tư vào địa phương có công nghệ thấp, thậm chí lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lao động phổ thông giá rẻ, tận dụng triệt để ưu đãi đầu tư, trách nhiệm với xã hội hạn chế, đóng góp cho ngân sách thấp. Người ta gọi đó là nền kinh tế gia công, lắp ráp, thiếu tính bền vững. Nhiều địa phương tập trung phát triển khai thác tài nguyên thô, xuất khẩu ồ ạt, để lại hậu quả môi trường rất khó khắc phục. Con số kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh nhưng giá trị gia tăng trong đó rất thấp, chủ yếu là bằng sức lao động của địa phương.

Về phân bổ nguồn lực:Do nguồn lực (ngân sách địa phương) hạn chế, các tỉnh nghèo chưa đủ khả năng cân đối thu chi ngân sách nên hàng năm các địa phương đều gặp khó khăn trong việc phân bổ nguồn lực. Nhu cầu chi rất lớn, nội dung chi nào cũng đều cấp thiết quan trọng, trong khi phần thu chủ yếu xin trợ cấp từ TW, do vậy các địa phương rất khó “mạnh tay” bố trí một nguồn lực đủ mạnh để tác động căn bản cho việc phát triển một lĩnh vực nào đó mà đã được xác định là khâu đột phá, tạo ra sự chuyển biển nhanh cho địa phương. Mặt khác, hệ thống ngân sách của Việt Nam còn mang tính thứ bậc cao, còn sự lồng ghép của ngân sách cấp dưới với ngân sách cấp trên. Quy trình ngân sách với tính lồng ghép đã làm cho sự tự chủ của chính quyền địa phương hạn chế, cơ chế xin-cho trở lên phổ biến. Chính những nguyên nhân này làm cho đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Nhiều lĩnh vực, công trình, dự án chưa cần đầu tư ngay những vẫn được đầu tư, trong tình trạng nguồn vốn được cấp nhỏ giọt, hạn chế, công trình kéo dài nhiều năm, dẫn đến thất thoát lãng phí, trong khi đó tỉnh cần một lượng vốn lớn có tính đầu tư quyết định, phá vỡ những điểm nghẽn thì lại không được bố trí.

Về quan tâm phát triển kinh tế tư nhân:Sau khi chúng ta thực hiện quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, ở địa phương chỉ còn phần lớn doanh nghiệp tư nhân và trong số đó có đến 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương có đặc điểm: công nghệ sản xuất lạc hậu, sản phẩm kém tính cạnh tranh, thiếu nguồn lực, trình độ quản trị hạn chế, khó khăn tiếp cận đất đai, tín dụng vv…

Về tầm vĩ mô, chúng ta đã có Nghị quyết 14/NQ-TW tại Hội nghị TW 5 (khoá X) về "Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân", có Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc Trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa và nhiều các chính sách trợ giúp khác. Tuy nhiên việc bố trí nguồn lực từ cấp vĩ mô để hỗ trợ giúp đỡ khối doanh nghiệp này là hạn chế.

Ở cấp địa phương, do nguồn ngân sách nhỏ bé như trình bày ở trên, dẫn đến việc bố trí ngân sách trợ giúp cho khối doanh nghiệp này lại càng hạn chế. Chính quyền địa phương chịu nhiều sức ép tập trung bố trí nguồn lực cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng và nhiều các chương trình cấp thiết khác. Trong khi đó, nếu tính hiệu quả đầu tư cho doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cao. Với một nguồn vốn trợ giúp không lớn, nhưng nó có tính chất kích cầu, có sức lan toả cao, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu ngân sách của tỉnh bền vững, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội.

Thứ hai, hành động của chính quyền địa phương trong việc tái cấu trúc nền kinh tế.

Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc tái cấu trúc nền kinh tế phải tuân theo các quy luật cơ bản của kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu. Chính các quy luật kinh tế đã điều tiết và tạo nên quá trình hình thành cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế theo mô hình, định hướng nhất định.

Chính sách nhà nước của các nền kinh tế thị trường không có tác dụng quyết định mà chỉ có thể can thiệp vào quá trình này với mức độ nhất định, thành công hay không thành công phụ thuộc vào tính đúng đắn, phù hợp các quy luật kinh tế và thực tiễn, được kinh tế thị trường chấp nhận.

Ở cấp độ quốc gia, cho đến nay, các nhà khoa học, các nhà quản lý đều nhất trí rằng, cơ cấu lại nền kinh tế, tìm mô hình tăng trưởng mới là công việc rất phức tạp, rất bức bách, phải được thực hiện bằng hàng loạt giải pháp đồng bộ, với một lộ trình chặt chẽ, khoa học. Tuy nhiên, phải bắt đầu từ đâu, thì vẫn đang còn ý kiến khác nhau.

Ở cấp độ địa phương, vấn đề tái cơ cấu kinh tế vẫn chưa có những giải pháp, định hướng cụ thể bởi vì còn phụ thuộc vào việc thông Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế của cả quốc gia. Vì vậy chúng tôi chỉ xin đề xuất một số giải pháp mang tính tổng quát:

- Xác định tái cơ cấu kinh tế ở một địa phương phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Cần thoát ra khỏi tư duy “kế hoạch hoá tập trung, bao cấp”. Phải xác định được vị trí vai trò của địa phương trong liên kết phát triển vùng, chịu sự phân công trong quy hoạch phát triển chung của quốc gia. Vấn đề làm rõ lợi thế cạnh tranh của địa phương mình so với các địa phương khác và lợi thế cạnh tranh so với tầm khu vực quốc tế là rất quan trọng. Từ đó xác định tập trung nguồn lực để phát triển các lĩnh vực có hiệu quả cao, có sức đột phát lớn. Nội dung này cần được làm rõ trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ của địa phương.

- Như trên đã đề cập, cấu trúc nền kinh tế là hệ thống “mạng” bao gồm các “nút” có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước với tư cách là một “nút” đặc biệt, có vai trò hết sức to lớn có thể làm thay đổi các mối quan hệ trong “mạng” hay thay đổi bản thân cấu trúc của mỗi “nút” trong “mạng”. Việc tác động của Nhà nước vào quá trình tái cơ cấu kinh tế chính là thay đổi cơ cấu và cách thức phân bổ nguồn lực để làm nền kinh tế hiệu quả hơn. Do vậy, tư duy và chính sách phân bổ nguồn lực có ý nghĩa quyết định thành công hay không đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng trong các giai đoạn sắp tới. Cơ chế phân bổ nguồn lực phải dựa vào tín hiệu thị trường, chống lại cách làm hành chính, quan liêu, chủ quan và nguyên tắc “xin cho”, “chia đều”, “thân quen”…

- Ở tầm quốc gia tập trung vào tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước thì ở địa phương cần tập trung tái cấu trúc doanh nghiệp tư nhân. Tái cấu trúc nền kinh tế địa phương thực chất là phải làm cho các đơn vị kinh tế (doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể) tự thay đổi từ bên trong, tự điều chỉnh mình, đó là đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trường mới... Có nghĩa, vấn đề được đặt ra trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế địa phương là việc quan tâm giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân phát triển. Đã có một thời chúng ta chỉ dồn phần lớn nguồn lực (vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên khoáng sản…) cho doanh nghiệp nhà nước, chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi (trải thảm đỏ) cho nhà đầu tư nước ngoài (FDI), vì vậy lúc này chúng ta phải thay đổi cách đối xử với kinh tế tư nhân. Cần cắt bỏ các dự án đầu tư không cần thiết, bố trí nguồn lực thích hợp, đủ mạnh để giúp khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh cá thể của địa phương phát triển. Thay đổi cách trợ giúp, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp. Có nghĩa là không tài trợ một nguồn lực trực tiếp cho doanh nghiệp (dễ xảy ra tình trạng xin-cho) mà dùng nguồn lực để giúp các doanh nghiệp có đủ điều kiện tiếp cận: khoa học công nghệ, thị trường, nguồn vốn tín dụng giá rẻ khi không đủ tài sản thế chấp, nâng cao trình độ quản trị…

- Cần nghiên cứu đề ra chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phù hợp với từng thời kỳ, phù hợp với nguồn lực (nhân lực, tài chính) hiện có của địa phương, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội-quốc phòng an ninh của địa phương và của vùng. Cụ thể hoá chiến lược bằng việc định hướng thu hút đầu tư, xác định quốc gia mục tiêu, lĩnh vực trọng điểm để đảm bảo mô hình tăng trưởng chuyển nhanh từ chiều rộng sang chiều sâu, tiết kiệm nguồn lực của xã hội, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, tăng thu ngân sách.

 

                           Nguyễn Cường - PGĐ Sở Kế hoạch và Đầu tư.